ung thu tuyen thuong than

Ngày 12/2, trong buổi giao lưu gặp gỡ sau chiến thắng giành vé vào Vòng chung kết World Cup 2023 - Ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh của đội tuyển bóng đá nữ quốc gia, Hưng Thịnh Land - nhà tài trợ lớn nhất cho đội tuyển bóng đá nữ quốc gia đã trao thưởng 2 tỷ đồng cho đội tuyển. Lịch chiếu phim Lotte Tuyên Quang- rạp Lotte toàn quốc đầy đủ & tiện lợi nhất. Lotte Tuyên Quang nằm ở Vincom Tuyên Quang, là cụm rạp chiếu phim đầu tiên tại Tuyên Quang. Lotte Tuyên Quang có 4 phòng chiếu (506 chỗ ngồi), đã mang trải nghiệm điện ảnh thế giới đến với khán giả tại khu vực. Công đoàn VIPESCO trao học bổng Nguyễn Đức Cảnh lần thứ 25. TCCT Công đoàn Công ty CP Thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO) vừa tổ chức lễ trao học bổng Nguyễn Đức Cảnh cho 36 con CNVC-LĐ có hoàn cảnh khó khăn nhưng đạt thành tích giỏi trong học tập. Ông Nguyễn Thân - Bí thư thị trường chứng khoán 2019 Với thông điệp " Xé nhãn liền tay, Uống ngay trúng lớn" nhà sản xuất nước giải khát số 1 Việt Nam mang đến cho khách hàng toàn quốc cơ hội vừa uống vừa tham gia nhận giải thưởng hấp dẫn từ chương trình. eo nghề thợ hồ kiếm sống, gia đình thường xuyên thiếu hụt, phải vay vốn lãi cao để trang trải các khoản chi tiêu. Đi tiểu thường xuyên:Một triệu chứng ban đầu khác của ung thư buồng trứng là đi tiểu nhiều hơn bình thường. Cảm giác buồn tiểu, dù không có nước tiểu, có thể do khối u gây áp lực lên bàng quang Thống kê của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, ung thư vú là căn bệnh nguy hiểm gây nguy cơ tử vong hàng đầu ở phụ nữ, không loại trừ bất kỳ độ tuổi, đối tượng nào. Trung bình mỗi 19 giây có 1 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh này. Bạn đã tầm soát ung thư vú chưa? - Video TVO Vay Tiền Nhanh Cầm Đồ. Trước hết chúng ta phải mở ra một khái niệm mới về cơ thể. Chúng ta, mỗi người, có một tâm hồn riêng của mình, có bản ngã riêng, có tư duy riêng, có thần kinh trung ương riêng. Nhưng cái tâm đó thật ra không phải là chủ nhân tuyệt đối của chúng ta. Có nhiều cái Tâm khác đồng hành, đồng hiện hữu, đồng hoạt động. Ví dụ các hệ thần kinh tự động điều khiển tim, ruột.. Hoặc tâm trí tạo ra giấc mơ… Ta không kiểm soát được hết mọi tâm thức nơi chính ta. Mỗi tâm thức đó có vẻ hơi độc lập với ta. Đó là lý do Phật nói chẳng có thật một bản ngã đâu. Thân tâm ta là nhiều thứ góp lại mà. Còn một cái này nữa, mỗi tế bào, mỗi cơ quan tạng phủ như tim thận gan phổi… lại cũng có phần tâm thức riêng của nó, dù nó có vẻ như đang phục tùng cái tâm thức chính ở Trung ương. Đây là khái niệm mới ta cần phải hiểu. Vài trường hợp chứng tỏ như có con gà bị chặt mất đầu vẫn sống tiếp, mình con rắn vẫn ngọ nguậy, nếu còn máu thì cánh tay lìa ra vẫn “sống”… Ta hiểu được rằng các cơ phận tế bào của cơ thể cũng có tâm thức riêng một phần thì ta mới hiểu thêm một chút về cơ thể của mình. Đây là khái niệm mới. Hễ là tâm thức thì nó có tình cảm. Tình cảm thì có thương, ghét, hài lòng, bất mãn, và LY KHAI. Ung thư chính là một dạng bộ phận cơ thể nổi loạn ly khai. Các tế bào không phát triển theo quy luật chung nữa, mà phát triển bừa bãi lộn xộn, có ý thù hằn trở lại chủ thể của mình. Tế bào phát triển bừa bãi, thù hận, tiết ra chất làm đau, tranh giành lấn át sự sống của cơ thể. Nếu không xử lý được, các tế bào rủ nhau nổi loạn càng lúc càng nhiều, và cả cơ thể lúc đó là một khối giặc nội tại, giết chết chủ thể luôn. Vậy nguyên nhân nào khiến các cơ phận tế bào nổi loạn ly khai? Và cách nào làm cho các cơ phận tế bào chấm dứt tâm lý nổi loạn ly khai để trở lại phát triển theo quy luật chung của cơ thể? Có hai cách phản ứng khi một bộ phận cơ thể tiếp nhận sự đối xử không hợp lý. Một là bất hợp tác, không làm việc nữa, suy giảm chức năng. Hai là nổi loạn, ly khai, thù hận, chống phá, gây đau đớn cho chủ thể. Ví dụ, hoặc là Gan suy yếu, hay Gan xuất hiện khối u, đều là các cách phản ứng lại sự đối xử bất hợp lý của cơ thể. Phổi xẹp, hay phổi tràn dịch, xuất hiện khối u, đều là cách phản ứng với sự đối xử bất hợp lý nào đó. Cơ bị teo, hay cơ bị u bướu, đều là cách phản ứng nào đó. Máu bị thiếu, máu bị tăng bạch cầu, cũng là cách phản ứng lại sự bất thường của cơ thể. Sự phản ứng bất thường của một bộ phận cơ thể có khi do nguyên nhân Nội tại, có khi do nguyên nhân Ngoại tại. Nguyên nhân Nội tại có thể là – nhiễm hoá chất độc hại từ thức ăn – nhiễm bẩn của môi trường sống xâm nhập vào hơi thở, thấm qua da ngâm mình trong bồn xà phòng lâu ngày cũng bị, vì xà phòng cũng là hóa chất – thức ăn bổ dưỡng dư thừa quá sức – hít khói thuốc lá, hay hít các loại hơi có chứa hoá chất độc hại – ép bộ phận cơ thể đó làm việc quá tải – tâm lý căng thẳng kéo dài ảnh hưởng đến bộ phận cơ thể liên quan ví dụ tuyến giáp – tâm lý hung ác tiềm tàng của chủ thể kích động sự nổi loạn của bộ phận Thực ra nói là Nội tại chứ cũng như Ngoại tại, vì nhiều thứ đưa từ bên ngoài vào. Chỉ có yếu tố tâm lý hung ác tiềm tàng là hoàn toàn nội tại, và mang theo từ kiếp trước. Còn yếu tố Ngoại tại thì thuộc về tâm linh hẳn. Do bị nghiệp gì đó, chủ thể bị các vong linh của các con vật đeo bám, và chọn một bộ phận để đeo bám dai dẳng. Các vong linh này có tâm thức, cuối cùng đã “thuyết phục” được bộ phận tại đó nổi loạn ly khai, bùng phát thành u bướu dị dạng kỳ lạ. Đây là trường hợp bộ phận của cơ thể bị bên ngoài “móc nối” để phản ứng sai trái. Khi đã phản ứng mạnh rồi thì rất khó để làm dịu tình hình lại. Ví dụ người ăn uống bổ dưỡng dư thừa quá sức làm vài bộ phận cơ thể bất mãn nổi loạn. Bây giờ có ăn kiêng cũng chưa chắc làm dịu “tâm lý” của bộ phận cơ thể đó trở lại như cũ. Thà chưa xảy ra, xảy ra rồi rất khó vãn hồi trật tự. Còn nguyên nhân Ép bộ phận cơ thể làm việc quá tải thì thật là đáng suy ngẫm. Ta có nói về yếu tố tâm thức riêng rẽ của mỗi bộ phận cơ thể, đó là khái niệm mới. Sau này ta cũng sẽ nói về cơ chế KHÍ LỰC VÔ HÌNH của cơ thể. Đông Y khai thác rất nhiều về cơ chế Khí lực vô hình này mà chữa trị được rất nhiều bệnh. Có lần gặp người kêu nhức đầu, bác thấy người này nhức đầu do lực chạy lên não, khí lực trống ở dưới, nên kêu ai bấm huyệt Túc tam lý dưới đầu gối giùm, chưa đầy một phút là đầu họ hết nhức. Huyệt Túc tam lý có công năng tạm thời kéo lực xuống lại. Vậy thôi. Những khái niệm này rất trừu tượng, invisible, vô hình, nên chưa được quan tâm nghiên cứu. Nhưng không sao, thế nào rồi Y học cũng sẽ biết. Trong lĩnh vực Vật lý rất nhiều loại vật chất vô hình còn bị phát hiện ra mà. Sóng vô tuyến điện từ, tia X, tia neutrino, sóng hấp dẫn, đều vô hình cả mà. Mỗi người do phước riêng của mình mà có cấu trúc Khí lực vô hình khác nhau. Cấu trúc Khí lực vô hình này tham gia điều chỉnh các hoạt động của cơ thể. Và nó cũng có công năng khống chế sự nổi loạn của các bộ phận cơ thể. Cùng hít khói độc giống nhau, nhưng người bị phát sinh bệnh ung thư, người thì vượt qua không sao cả. Cùng ăn thức ăn bị nhiễm độc giống nhau, nhưng người chỉ bị ói mửa, chóng mặt, rồi hết, còn người khác lại bị ung thư. Cùng bị vong đeo bám giống nhau, nhưng người bị ung thư, người chỉ đau nhức rồi thôi. Hai người hung dữ giống nhau, nhưng người bị ung thư, người thì không bị. Khí lực vô hình mạnh cũng giúp trấn áp, khống chế, không cho các bộ phận cơ thể nổi loạn ly khai mà phát bệnh ung thư là như vậy. Một số nghiên cứu thống kê cho thấy rõ ràng nếu siêng năng tập luyện thể lực, người ta giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư là vì như thế, bởi vì sự tập luyện làm tăng Khí lực vô hình cho cơ thể. Một số loại thuốc thảo dược cũng có tính giúp trấn áp khống chế sự nổi loạn của bộ phận cơ thể để trị bệnh ung thư. Còn xạ trị là dùng tia phóng xạ để tiêu diệt tế bào ung thư, nhưng cũng làm nhiễm xạ chung cơ thể. Mà tia phóng xạ cũng chính là thủ phạm gây ung thư cơ mà. Hoá trị là dùng hoá chất độc hại để giết tế bào ung thư, nhưng cũng giết nhầm rất nhiều tế bào khác, và cũng gây nổi loạn ở các bộ phận khác, gây di căn nhanh hơn. Các nhà khoa học cũng đã cảnh báo nguy cơ gây ung thư từ thịt đỏ bò…. Ăn thịt bò dễ bị ung thư hơn ăn thứ khác. Lý do là cái phần tâm thức cục bộ của miếng thịt đó mạnh quá, không chịu rời đi dù đã được nấu chín. Ăn vào, cái tâm thức KHÔNG GIỐNG AI đó lang thang trong cơ thể người ăn. Nó gây gổ, kích động, làm loạn, chiếm giữ bộ phận, rồi nổi loạn luôn. Có những loại thịt cá khi bị nấu chín rồi thì cái phần tâm thức cục bộ của nó cũng tan luôn. Còn thịt bò thì cái tâm thức cục bộ của nó mạnh đặc biệt, nấu chín rồi vẫn không tan đi. Trong suốt cuộc đời của chúng ta, đã rất nhiều lần bộ phận này bộ phận kia nổi loạn qua các hình thức viêm tấy, sưng, lỡ, đau… nhưng rồi lại dịu xuống bình thường. Ở những mức độ đó, y học chưa cho là ung thư, nhưng thật ra nó có bản chất ung thư rồi. Chỉ cần chọc giận nó thêm chút nữa, nó nổi loạn vĩnh viễn, là thành ung thư thiệt luôn. Đạo Phật gọi là phước nghiệp chưa đủ. Nó nổi loạn, nhưng vì còn phước nên khiến ta hoặc vô tình ăn nhằm thứ gì vào làm nó dịu lại, hoặc ta gặp thầy thuốc cho đúng thuốc khiến nó thôi. Rồi lần khác nó lại nổi loạn, và vì còn phước nên ta lại xứ lý êm dịu. Nếu ta hết phước thì ta cứ loay hoay chọc giận nó hoài và nó nổi loạn luôn. Ta để ý sẽ thấy, bộ phận nào bị bệnh một lần sẽ hay dễ lập lại. Nếu bệnh rề rề hoài thì ta gọi là mạn tính. Nếu bệnh rồi hết, rồi tái phát, thì ta lại coi thường, chứ nó có mầm mống nổi loạn chưa trị dứt. Ta tập quan sát loại bệnh không phải ung thư, và loại bệnh được xếp vào loại ung thư. Loại xếp vào ung thư thì dữ dội hung hiểm hơn, lì lợm hơn, khó dạy bảo hơn. Ta nghe kể khối u vừa tách ra khỏi cơ thể đặt lên khay là nó nhảy tưng tưng. Ta cứ cho đó là phản ứng thần kinh tự nhiên, mà không nghĩ nó là con vật có tâm thức riêng. Nếu ta nhìn cái khối u vừa tách ra đang giãy giụa mà hiểu rằng đó là con vật độc lập, nào giờ bám trong cơ thể mình, thì sẽ thấy kinh sợ thật sự. Việc chữa trị bệnh ung thư cũng khó mà cũng không khó. Việc chữa trị sẽ là khó nếu ta chọn con đường đối đầu sống mái với nó. Việc chữa trị sẽ là không khó nếu ta chọn con đường nhu hòa thuyết phục xoa dịu dẫn dụ. Nó hung dữ đấy, nhưng Nhu thắng Cương, ta kiên nhẫn dẫn dụ mãi sẽ được. Điều đầu tiên ta phải hiểu đó là một tâm thức hung dữ gắn vào bộ phận cơ thể ta. Sự hung dữ của nó có phần lỗi của ta, dù có khi ta không cố ý. Ta sống lâu trong môi trường ô nhiễm, ta ăn mãi thực phẩm đầy hoá chất độc hại, ta để cho tâm lý căng thẳng mãi mà không chịu hóa giải, ta không sám hối để diệt trừ ác tâm tiềm tàng nhiều kiếp còn ẩn núp trong tâm mình… Để cho bộ phận cơ thể đó hết tâm thức hung ác, thì ta phải có phương pháp bao vây xử lý nhiều yếu tố cùng lúc. Vừa là phải điều chỉnh lại thức ăn, sửa lại môi trường sống sạch sẽ, tu dưỡng tâm lý thanh thản hiền lành, sám hối ác tâm nhiều kiếp, đối xử tử tế với mọi người để khẳng định thiện tâm của mình… Nếu có duyên gặp thuốc thảo dược thiên nhiên hiệu quả thì thêm phần hy vọng. Có người sống hết sức hiền lành bình thường, bỗng phát bệnh ung thư phổi. Nguyên nhân được tìm thấy là cứ thắp hương rồi ở phòng kín đó tụng kinh niệm Phật. Lâu ngày phổi chịu không nổi nên nổi loạn luôn. Có người bỗng phát hiện ung thư gan, chỉ bởi vì mê trà sữa trân châu mà không biết nó sản xuất ở đâu, làm bằng nhựa gì. Ngày nào cũng một ly cho đã miệng. Có người bỗng phát hiện ung thư máu, có cả trẻ em, chẳng tìm được nguyên nhân. Thật ra đều do loại sữa mà bố mẹ mua về, sữa đó bổ sung nhiều thành phần làm các tế bào máu nổi giận. Sữa đó rời xa tự nhiên, cái tự nhiên mà cơ thể con người đã phù hợp. Có người bỗng phát hiện ung thư não, chỉ vì những ý nghĩ sai thầm kín không biết để mà gột rửa. Cứ mưu mô tính toán thâm độc hại người, đâu biết rằng nó trở lại hại mình. Ta nên hiểu, khối u là ung thư thể chất, còn biến dạng tâm thần là ung thư tâm lý. Cái nào cũng khổ sở hết. Việc ăn thịt cá nhiều quá, rước vào người nhiều tâm thức hạ cấp xa lạ, chẳng khác gì uống thuốc độc. Ta nên hiểu súc vật có tâm lý rất hạ cấp, sân si, ích kỷ, hung hãn, dâm dục… Ta đưa các tâm lý đó vào người mình thông qua miếng thịt thì chẳng khác nào nhuộm tâm hồn của mình bằng các thứ tồi tệ. Chỉ trừ trường hợp con vật đó chết một cách không phải do giết hại, ta rơi vào tình cảnh chẳng có gì ăn. Ta cần phải sống và con vật “hiến tạng” cho ta cũng có được thêm chút phước, thì không sao. Ta hiểu những điều này để điều chỉnh cuộc sống của mình cho lành mạnh, giúp ngăn ngừa và trị liệu ung thư. Tuy nhiên, nếu bị ung thư thật sự rồi thì việc trị liệu phải mạnh mẽ hơn rất nhiều. Vi khuẩn xấu ác cũng là tác nhân chọc tức các bộ phận cơ thể ta nổi loạn. Có những vi khuẩn hiền lành, thân thiện, hợp tác với cơ thể ta, không kích động chọc tức tế bào ta. Nhưng cũng có những tế bào xấu ác, khi xâm nhập cơ thể ta liền kích động tế bào nổi loạn gây ung thư. Như Helicobacter Pylori HP lọt vào dạ dày sẽ gây ung thư dạ dày. Hoặc Human Papilloma Virus HPV gây ung thư cổ tử cung. Còn anh HIV thì khiếp quá rồi. Thế các vi khuẩn đó ở đâu xuất hiện, để rồi lây lan tùm lum vậy? Các vi khuẩn đó xuất hiện do môi trường thích hợp với chúng đã có. Môi trường sinh ra các sinh vật phù hợp với nó. Sau này có dịp ta sẽ nói qua đề tài này và tìm thấy lời giải cho nguồn gốc loài người. Con người, trong quá trình sống, đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn xấu ác xuất hiện, rồi các vi khuẩn đó quay lại tấn công con người. Vì thế, tạo ra một môi trường sống lành mạnh là bổn phận của tất cả chúng ta để bảo vệ cho chính ta và cho cộng đồng. Tạo môi trường sống lành mạnh. Ta đã biết môi trường sống cũng là tác nhân gây ung thư, thế nên việc tạo ra môi trường sống lành mạnh là việc bảo vệ cho ta và cho cộng đồng. Môi trường sống thì thật đa dạng, gồm Nguồn Không khí, Nguồn nước, Nguồn đất, Nguồn thực vật, Nguồn động vật, Nguồn ánh sáng, Nguồn âm thanh, Nguồn quan hệ tình cảm với cộng đồng, Nguồn tri thức ta tiếp nhận, Nguồn sản phẩm do con người tạo ra, Nguồn nghệ thuật, Nguồn kỹ thuật…. Tạo một môi trường sống lành mạnh có nghĩa là làm cho tất cả các Nguồn trên đều lành mạnh. Nghe không tưởng quá. Chẳng ai làm nổi nếu cả thế giới không đồng lòng. Chúng ta chỉ có thể làm được vài điều nho nhỏ để xem là góp phần tạo nên một môi trường sống lành mạnh. Ví dụ như ta có thể hạn chế tối đa việc đổ xà phòng vào cống rãnh, vì nước thải từ cống rãnh sẽ đổ về các dòng sông, giết chết sự sống của dòng sông. Rồi những dòng sông thối đen đó tạo nên một môi trường sống bất lợi cho chúng ta, ngấm ngầm gây ung thư cho chúng ta. Bây giờ bệnh ung thư nhiều, đừng tưởng là chỉ do thức ăn nhiễm độc hóa chất, mà còn do hơi độc từ các dòng sông lặng lẽ bốc vào không khí, xâm nhập vào da, vào phổi, vào mắt, vào tai, vào mũi của chúng ta. Hoặc loài người phải nhanh chóng tìm loại nhiên liệu thay thế dầu mỏ trong việc tạo ra năng lượng cho hoạt động của máy móc xe cộ như hiện nay. Khói xe không được xử lý, thả vào không khí, tấn công thẳng vào phổi, vào mắt của con người, trước khi tạo nên hiệu ứng nhà kính làm nóng bầu khí quyển lên. Rồi con người có cách sống tạo ra nhiều rác, và không đủ đạo đức hay thông minh để tái sử dụng rác đó, bèn đem vứt bỏ. Rác đó gây ô nhiễm nguồn nước, nguồn không khí, nguồn đất, làm góp phần gây bệnh ung thư nhiều hơn. Rác nhiều hơn, và bệnh ung thư cũng tăng theo. Rất nhiều loại hóa chất phục vụ đời sống con người, sơn cho đẹp, ăn cho giòn, tẩm cho thơm… đều là độc hại gây ung thư cả. Con người ban đầu hăm hở sản xuất nhiều thứ được cho là thông minh, nhưng không ngờ lại tạo ra một môi trường sống thiếu lành mạnh, và con người phải chịu bệnh tật nhiều hơn xưa. Ai có ý thức sâu sắc trong bổn phận là phải tạo ra môi trường sống lành mạnh để bảo vệ cho cộng đồng, đó là người có đạo đức lớn. Và ta hiểu, đạo đức nào cũng có phước báo mai sau. Khắp đây đó trên thế giới có nhiều thầy lang, lương y, thầy thuốc gia truyền… có các bài thuốc trị ung thư. Tỉ lệ chữa trị trên 40% đã là đáng ca ngợi rồi. Ta cũng nghe hằng ngày trên các mục quảng cáo thuốc này ngừa ung thư, thuốc kia trị ung thư. Có nơi còn dùng cả nước tiểu để chữa ung thư nữa. Họ không nói dối. Chỉ là ta mua về uống không có tác dụng gì cả, vẫn lên đường như thường. Lý do là lượng thức ăn mỗi ngày của ta có tác dụng rất lớn đối với việc trị liệu ung thư. Tất cả cái gì ta đưa vào miệng đều có dược tính, đều là thuốc, dù là miếng cơm hay chút rau đậu thịt cá. Nhưng hầu hết chúng ta chọn sai mục tiêu, ăn cho ngon, chứ không chịu ăn cho khỏe mạnh. Ta nhìn bàn tiệc của mọi người, nhiều món ăn ngon, nhiều thức uống ngon, nhưng chẳng có lợi gì cho sức khỏe cả. Đạm động vật vào người nhiều quá là dư thừa, dư thừa thì ứ đọng, ứ đọng thì chỉ có hại. Bài này ta nói về việc ăn uống để chữa ung thư. Ta đã biết, môi trường cơ thể khi bị biến động xấu sẽ khiến cho bộ phận cơ thể nổi loạn ly khai, gây thành u bướu độc hại chống lại chủ thể. Nếu ta điều chỉnh sự biến động đó lại, tạo lại môi trường cơ thể tốt lành, thì có thể góp phần vào việc xoa dịu sự phẫn nộ của các tế bào ung thư, đưa chúng trở lại phát triển theo đúng quy luật chung của cơ thể. Ta vừa dùng từ CÓ THỂ GÓP PHẦN VÀO VIỆC XOA DỊU. Nghĩa là việc chọn lựa thức ăn không phải là yếu tố quyết định trăm phần trăm vào việc chữa trị ung thư, nhưng sẽ là yếu tố khá quan trọng. Sự phẫn nộ nổi loạn của bộ phận cơ thể đến mức độ thành ung thư rồi thì không đơn giản nữa. Ta cũng bất ngờ phát hiện ra rằng rất nhiều thực phẩm thiên nhiên có tính năng xoa dịu tâm thức của các bộ phận cơ thể. Không như bệnh tiểu đường, tuyến tụy rất kén chọn thực phẩm, tinh bột thì phải là cơm, rau thì phải là rau muống, nước chấm thì phải là nước tương truyền thống của Việt Nam. Còn ung thư thì có rất nhiều loại rau quả giúp điều chỉnh môi trường cơ thể hiền lành lại. Rau má mọc ngoài bờ ruộng, rau càng cua mọc dại bờ ao, rau trai giống như cỏ bên đường làng, một số loại nấm như linh chi hay lim xanh mộc nhĩ…, nhiều loại lắm, đều có tính chữa ung thư. Nếu ta đem các loại rau nấm đó về phân chất thì có khi chẳng thấy chất gì đặc biệt. Chúng chỉ có tác dụng LÀM HIỀN LÀNH lại môi trường cơ thể ta mà thôi. Mà ung thư thì rất cần một môi trường cơ thể hiền lành để thôi nổi loạn. Thông thường các loại cay nồng thì gây kích thích cơ thể, bất lợi cho việc Hiền Lành hóa cơ thể. Ớt, rượu, gừng, tỏi có nơi cho tỏi có tác dụng ngừa ung thư… đều cay nồng nên hạn chế dùng nếu muốn chữa bệnh nhanh. Ông bà mình có đưa ra khái niệm món ăn nóng hay mát rất hay. Từ cảm nhận trực quan, ông bà mình nói sương xâm mát, đậu xanh mát, hột é mát, rau lang mát, nhiều lắm. Các thức ăn MÁT đó cũng rất giống với tính năng điều hòa môi trường cơ thể hiền lành êm dịu lại. Có khi ta chỉ tìm ăn các thức ăn MÁT đó mà cũng lành bệnh ung thư. Còn ông bà mình đã chê thức ăn nóng thì có lẽ nó sẽ dễ gây ung thư. Một số củ có bột cũng giúp chữa ung thư như khoai môn, khoai mỡ. Vài loại củ có xơ như củ nùng, củ năng, củ sen, cũng chữa ung thư. Rau muống ta thường ăn, chấm với nước tương truyền thống, trị được tiểu đường, cũng trị được ung thư. Ít ai ngờ, rau muống luộc, lấy nước, nướng quả cà chua dầm vào, đó chính là thuốc trường sinh của người Việt Nam. Nó tạo ra một cơ thể rất hiền lành. Điều rất lạ là càng chế biến phức tạp cho ngon miệng thì càng chọc giận cơ thể. Chẳng hiểu sao cơ thể lại ngược với vị giác của ta. Miệng ta thấy ngon thì cơ thể ta thấy ghét. Các gia vị như mì chính bột ngọt là kẻ thù của cơ thể. Ai ăn mì chính bột ngọt nhiều thì thế nào cũng bị tiểu đường, suy thận, Ung thư. Một ông chữa tiểu đường bằng CORA, rất phấn khởi khi chỉ số đường huyết từ 527mg/dl,nghĩa là cao nhất thế giới, mỗi ngày phải chích 4 mũi insulin và uống 2 liều thuốc mà đường vẫn giao động từ 300-500. Vậy mà ăn CORA 4 ngày thì đường huyết rơi xuống 137 liền. Hiệu quả phi thường này chưa từng có trên thế giới. Nhưng sau đó ông nhìn bát cơm rau muống và than, không lẽ sống mà ăn thế này thì còn gì là cuộc sống. Ông quay lại với 4 mũi thuốc chích chích bụng, 2 liều thuốc uống, với mức đường 500, và với rượu thịt ngon say. Ta tôn trọng sự chọn lựa của ông. Nhưng ta cũng ngưỡng mộ một vị thượng tọa lặng lẽ ngồi ăn 3 bát cơm xịt xì dầu ngon lành. Rồi đường huyết từ 285 rơi xuống 110 tức khắc. Có lẽ việc chọn lựa lối ăn uống đạm bạc nhưng lành mạnh để sống khỏe có liên quan đến công đức tu tập. Người có công đức tu hành dễ dàng ăn uống đạm bạc để tránh bệnh hơn là người không biết tu. Ăn giản dị mà vẫn thấy ngon, đó là tâm hồn hiền thiện. Tâm hồn của chủ thể hiền thiện thì các bộ phận cơ thể cũng bị ảnh hưởng mà hiền lành theo luôn. Ta có thể dùng các loại đỗ đậu để cung cấp đạm cho cơ thể. Chất béo thì tạm ngưng khi đang chữa bệnh. Chất ngọt như đường mía tinh luyện thì tránh xa. Chẳng hiểu sao tế bào ung thư rất thèm đường ngọt và chất béo. Đưa hai loại đó vào là ung thư hưng phấn ngay. Còn địa long là cái gì rất đặc biệt. Địa long giúp cơ thể tăng sức đề kháng, giúp cơ thể khống chế sự nổi loạn của các bộ phận cơ thể. Thực sự địa long như món quà của trời đất tặng con người. Nhưng đừng lạm dụng, để dành cho người khác cùng dùng. Như ta đã hiểu, Ung thư là bộ phận cơ thể ta bỗng biến thành ác thú ngay trong người ta mà ta không còn kiểm soát được nữa. Muốn trở thành ác thú thì bộ phận đó vốn đã có phần tâm thức độc lập tương đối nào rồi. Rồi vì lý do nào đó mà bộ phận đó nổi loạn ly khai chống lại chủ thể. Lý do thì cũng nhiều. Muốn chữa trị ung thư thì ta thường hay tìm cách cắt bỏ con thú dị biến đó ra, hay tiêu diệt các tế bào của khối ung thư đó đi. Giải pháp này dễ hiểu vì phù hợp với suy nghĩ của con người từ thời mông muội hoang sơ, trái ý nhau thì giết đi, ai không phục tùng ta thì giết đi. Nhưng thực tế cho thấy giải pháp tiêu diệt này không có bao nhiêu hiệu quả, rất tốn kém, rồi bệnh nhân cũng chết trong đau đớn. Vì vậy chúng ta cùng nhau tìm hiểu một giải pháp khác, sao cho hợp lý hơn. Đầu tiên ta nhìn bệnh ung thư theo góc nhìn mới, phát hiện nguyên nhân nổi loạn của bộ phận cơ thể. Khi bộ phận đó nổi loạn rồi thì rất hung hãn khó trị. Ta bắt đầu bằng cách tạo dựng môi trường sống lành mạnh. Kế tiếp ta dùng thức ăn để tạo môi trường hiền lành cho cơ thể. Nhưng con ác thú này vẫn chưa chịu thuần phục đâu. Bài này ta nói về công năng của Khí công và Thiền định để tạo một môi trường tâm thức hiền thiện nhằm gây ảnh hưởng lên tâm thức hung hãn của con ác thú ung thư. Phương pháp Âm Dương khí công có công năng rất lớn trong việc vừa tịnh hóa tâm hồn ta, vừa tạo sức mạnh tiềm ẩn hỗ trợ cơ thể chữa bệnh. Sức khỏe giúp khống chế sự ly khai của bộ phận cơ thể đang nổi loạn. Sự thanh tịnh tâm hồn giúp hạ bớt cơn hung hãn của các tế bào ung thư. Đây là hai gọng kềm tấn công vào tế bào ung thư. KHỐNG CHẾ sự ly khai của bộ phận ung thư, HẠ BỚT tâm thức hung hãn của tế bào ung thư. Nếu chưa bị ung thư, ta vẫn phải tập Âm Dương khí công đều đặn để ngừa ung thư. Nếu bị ung thư rồi, thì ta càng phải siêng tập Âm Dương khí công nhiều hơn nữa. Cái hay của Âm Dương khí công là giúp tâm ta nhanh chóng thanh tịnh. Và đương nhiên thì hơi thở 1-5 đó sẽ tạo nên nội lực dần dần. Nhưng công năng của Khí công thì chưa đủ để thuần phục con ác thú trong người ta hoàn toàn. Cần phải có Thiền định nữa. Khi tọa thiền, ta hướng tâm về mục tiêu Vô ngã, tạo nên một sự hiền thiện đặc biệt thẳm sâu trong tâm thức. Ta biết, con ác thú ung thư có nguyên nhân từ tâm hung ác tiềm tàng của chính chúng ta. Nay ta tọa thiền hướng về mục tiêu Vô ngã thì ta đang dọn dẹp lại bề sâu của tâm thức mình. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức của khối ung thư. Khi hướng về mục tiêu Vô ngã mỗi ngày, ta làm lay động sự hung hãn của con ác thú ung thư. Tâm ta đạo đức dần, hiền lành dần, vị tha dần, tha thứ dần, khoan dung dần. Các tâm lý đạo đức đó bao vây khối u, chuyển hóa dần tâm thức của khối u. Ngoài những lúc tập Âm Dương khí công và tọa thiền ra, ta còn cố gắng làm nhiều việc phước thiện nữa. Vì sao, bởi vì nội tâm hiền thiện phải được bảo đảm bằng việc làm phước thiện. Khi làm được nhiều việc phước thiện, tức là ta đã xác định sự hiền thiện trong nội tâm của mình. Và một nội tâm hiền thiện vững chắc đó ắt hẳn sẽ làm xiêu lòng con thú ung thư. Tập Âm Dương khí công, Tọa thiền hướng về mục tiêu Vô ngã, làm nhiều việc phước thiện, đó là 3 công phu dọn dẹp tâm hồn ta, tạo nên sự hiền thiện trong nội tâm ta, để ảnh hưởng lên tâm thức của khối u. Ta đã biết mỗi bộ phận cơ thể đều có phần tâm thức riêng, vừa liên quan với chủ thể, vừa độc lập với chủ thể. Khi yên ổn bình thường thì tâm thức của các bộ phận thường hòa theo chủ thể. Khi bị tác động gì bất thường vượt giới hạn thì tâm thức của các bộ phận nổi loạn ly khai chống lại chủ thể. Lúc đó bộ phận này trở thành khối bệnh ung thư, phát triển riêng, phát triển bừa bãi không theo quy luật của cơ thể nữa. Ta đã nói về việc tạo một môi trường sống lành mạnh để gây ảnh hưởng tốt cho cơ thể. Ta đã nói về thức ăn để tạo một môi trường cơ thể hiền lành bao vây khối ung thư. Ta đã nói về việc luyện tập khí công, thiền định, làm việc thiện để gây ảnh hưởng lên tâm thức của khối ung thư. Hôm nay ta nói về liệu pháp Quán từ bi và lễ Phật sám hối, để triệt tiêu hoàn toàn tâm thức hung dữ của khối ung thư. Khi phát bệnh ung thư thì khối u đó phản kháng lại tâm thức của chủ thể. Nhưng nếu chủ thể mạnh mẽ khởi lên tâm lý đạo đức Từ Bi thì sẽ bắt đầu gây ảnh hưởng ngược vào tâm thức của khối ung thư. Ta ngồi yên lặng lẽ. Ngồi được kiết già hoa sen thì càng tốt. Ta nguyện lòng mình yêu thương tất cả chúng sinh. Chúng sinh có nhiều loại. Những người thân yêu của ta, những người có liên quan quyền lợi tình nghĩa với ta, những người chống đối mưu hại ta, những người gặp qua đường hàng ngày mà ta chẳng để ý, những người mà ta chỉ biết họ có mặt trên thế giới mà chẳng bao giờ gặp gỡ, những người giàu sang quyền quý, những người cơ khổ bần hàn, những người hiền lành đạo đức, những người độc ác hung bạo, những chúng sinh đang bị đọa dưới địa ngục, những chúng sinh đang bị đọa thân súc sinh, những chúng sinh đang làm vong linh đói khổ, tất cả, tất cả, khắp muôn nơi… Ta nguyện trải lòng yêu thương hết, nguyện tất cả chúng sinh cũng biết yêu thương nhau. Ta nguyện mong sao cho tất cả chúng sinh đều giác ngộ đạo lý để cuối cùng đều được thoát khỏi khổ đau. Rồi ta để tâm nơi khối u, nguyện nếu có chúng sinh nào bám vào đấy thì hãy chuyển tâm thức an vui từ bi siêu thoát… Mỗi ngày ta đều Quán từ bi như vậy vài lần. Rồi ta quỳ lễ Phật, xin sám hối tội lỗi từ nhiều kiếp xưa mà ta đã quên mất, lúc đó vì vô minh mà gây tạo ác nghiệp. Tâm hung ác xưa ắt hẳn còn núp kín trong lòng. Cúi xin Phật chứng minh tâm thành sám hối, và xin Phật gia hộ cho hết bệnh ung thư, xin cho tâm thức của các khối u đều biến thành tâm hiền lành vô hại. Ta cũng hứa với Phật, sẽ sống theo lời Phật dạy từ đây đến muôn kiếp sau, sống yêu thương, phụng sự, tu hành, cùng chia sẻ đạo lý đến tất cả chúng sinh… Ta lễ Phật nhiều với tâm tôn kính tuyệt đối, với lòng sám hối vô bờ. Đây là liệu pháp tâm linh cao cả vô cùng, vừa giải nghiệp, vừa chuyển hóa tâm thức của khối u biến thành u lành, rồi hòa tan vào cơ thể như xưa. Nhiều lương y đã phát hiện ra đặc tính chữa ung thư của một số thảo dược, như cây xạ đen, rong biển, đinh lăng… Tại sao gọi là Thuốc, bởi vì các thầy thuốc tin rằng nó có sức mạnh chữa bệnh mà không cần bệnh nhân phải thay đổi lối sống, không cần phải thay đổi món ăn. Còn nếu phải thay đổi lối sống hay món ăn là bởi vì thuốc chưa đủ mạnh. Các vị có cơ sở để tin như vậy. Một số loại thuốc đi vào cơ thể, được tế bào ung thư hấp thu, và khiến cho tế bào ung thư bị khống chế. Nếu loại thuốc đó chỉ khống chế tế bào ung thư mà không làm hại các tế bào bình thường thì xem như đây là thuốc quý. Thực tế trong cuộc đời cũng có những phương thuốc đặc biệt như vậy chứ chẳng không. Tuy nhiên, vị thuốc đó sẽ hiếm, dùng đại trà không đủ. Mà thuốc quý như vậy thì các vị lương y cũng dè dặt phổ biến cho công chúng. Một số lương y đã từng chữa lành ung thư cho vài người này, nhưng đã bó tay nhìn một số người khác ra đi. Thảo dược có tác dụng với tỉ lệ phần trăm nào đó chứ không trăm phần trăm. Điều này có nghĩa là ngoài dùng thảo dược ra, bệnh nhân còn phải bổ sung các liệu pháp khác nữa. Nhưng tiếc là có người biết dùng thêm các liệu pháp khác, có người chỉ ỷ lại vào thuốc thảo dược mà không bổ sung cần thiết. Các vị lương y cứ nhìn khối u rồi cho thử nghiệm các vị thuốc, ai hên thì trúng nhằm lần thử thuốc thành công và bớt bệnh. Thấy người này hết bệnh, vị lương y mừng quá bèn kết luận mình đã tìm ra công thức thảo dược trị ung thư. Lần sau đem bài thuốc đó chữa cho người khác thì kết quả là đưa bệnh nhân về miền vĩnh hằng rất nhanh. Lý do là, không biết tại sao. Chính vì sự bấp bênh mơ hồ trong việc trị liệu ung thư mà chưa có mấy người dám xưng mình chữa khỏi ung thư cả, vẫn tiếp tục mò mẫm tìm kiếm. Còn phẫu thuật cắt bỏ khối u, xạ trị hay hoá trị thì chỉ giúp bệnh viện ung bướu quá tải. Người này chưa hết hay chưa chết thì đã có nhiều người bệnh khác nhập viện giành chỗ. Quan điểm của tây y trước sau như một, phải tiêu diệt tế bào ung thư. Còn thuốc thảo dược thì không tiêu diệt khối u, mà chỉ là làm cho hết khối u. Cách nghĩ hiền hơn. Nhưng điều quan trọng là ta phải hiểu UNG THƯ là gì cái đã. Chưa hiểu rõ bản chất của bệnh ung thư thì ta có chữa gì cũng chỉ là mò mẫm. Khi nào may thì hết bệnh, xui thì hết sống. Nếu ta hiểu rõ bản chất của ung thư, ta cũng sẽ trân trọng các bài thuốc thảo dược đã từng chữa được ung thư theo tỉ lệ phần trăm nào đó, nhưng ta biết như thế vẫn chưa đủ. Ung thư không đơn giản. Ta cần một cuộc tấn công toàn diện, bao vây toàn diện, sửa đổi toàn diện, điều chỉnh toàn diện để biến đổi các khối u trở thành hiền lành vô hại. Sự cải cách toàn diện đó bao gồm cả sự phát triển đạo đức của chính chúng ta. UNG THƯ, ban đầu là tai họa giáng xuống cuộc đời ta, nhưng biết đâu, đó cũng chính là cơ hội để ta thay đổi toàn bộ con người mình, mà sau đó, ta sẽ sống để chỉ còn lại mục tiêu đem niềm vui, hạnh phúc, chân lý cho nhau mà thôi. Ai không học được bài học này thì đành bỏ cuộc chơi, về với nấm mồ hiu quạnh. Ai học được bài học này thì trở thành một con người mới, con người mà khi chết đi, mọi người sẽ tiếc thương vô hạn, còn chư thiên thì mừng đón ngợi khen. Ta tạm dừng ở đây, hẹn lâu lâu sẽ trở lại với đề tài nguồn gốc loài người TT. Thích Chân Quang Ngày 28/12, Bệnh viện Bạch Mai thông tin, điều trị thành công ca bệnh khó, sản phụ đang mang thai phát hiện ung thư tuyến giáp và u tuyến thượng phụ này từng có tiền sử 2 lần sảy thai một lần lúc 8 tuần, một lần thai 13 tuần vì mắc bệnh Basedow. Khi mang thai lần thứ 3, tình trạng Basedow và đái tháo đường thai kỳ của thai phụ được kiểm soát tốt bằng thuốc kháng giáp trạng và tiêm insulin. Khi lần lượt vượt qua các mốc 8 tuần, 13 tuần rồi 25 tuần… sản phụ rất vui mừng, mong đến ngày đón con chào nhiên, khi đến tuần thai thứ 26, bệnh nhân đau nhiều vùng thượng vị. Khi đến Bạch Mai khám, bác sĩ phát hiện bệnh nhân có một khối u lớn ở tuyến thượng thận bên trái, kích thước nhân ổn định sau khi phẫu thuật u tuyến thượng thận, ung thư tuyến giáp khi sinh con được 3 tháng Ảnh Bệnh viện cung cấp.Với khối u này có thể xảy ra 3 nguy cơ Là khối u ác tính; U tiết ra các nội tiết tố gây tăng huyết áp nặng; U phát triển to lên có thể chèn ép gây sảy thai hoặc đẻ non, bệnh nhân buộc phải nhập viện điều được chỉ định làm thêm nhiều xét nghiệm chuyên sâu để đánh giá, bác sĩ lại phát hiện bệnh nhân bị ung thư tuyến Nguyễn Quang Bảy - Trưởng Khoa Nội tiết, Bệnh viện Bạch Mai đã đề xuất hội chẩn toàn viện với hơn 10 chuyên khoa nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất cho người Bảy cho biết, với trường hợp của sản phụ, nếu phẫu thuật sớm sẽ tốt cho bệnh lý người mẹ nhưng nguy cơ hỏng thai là rất cao. Sau khi hội chẩn, các bác sĩ quyết định tiếp tục điều trị nội khoa, theo dõi sát để giữ Bảy thông tin thêm, với những trường hợp này, bệnh nhân thường phải có chỉ định tiêm thuốc trưởng thành phổi nhằm đối phó với nguy cơ sinh non. Tuy nhiên, loại thuốc này lại có thể làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp và tăng đường huyết. Sau một tháng theo dõi chặt chẽ về huyết áp, đường huyết, bệnh nhân được tiêm thuốc trưởng thành phổi thành công, kiểm soát được các bệnh nền và ra thai được 33 tuần, sản phụ xuất hiện cơn co tử cung, dọa đẻ non, phải nhập viện. Đến tuần thai 34, thai nhi đạt trọng lượng 2,6kg, các cơn co tử cung dồn dập, các bác sĩ đã quyết định mổ lấy thai."Hai mẹ con sản phụ "mẹ tròn con vuông" là một thành công lớn, bởi người mẹ có tiền sử sản khoa nặng nề, lại có đến 5-6 bệnh nền khác nhau", BS Bùi Phương Thảo cho 11/2022, khi em bé được 3 tháng, bệnh nhân trở lại Bệnh viện Bạch Mai để giải quyết khối u tuyến thượng thận và khối ung thư tuyến giáp. Các bác sĩ liên khoa Nội tiết - Đái tháo đường; Phẫu thuật lồng ngực; Phẫu thuật Tiêu hóa Gan mật tụy và Gây mê hồi sức đã phẫu thuật thành công, giải quyết cả 2 khối u trong một lần phẫu bệnh nhân xuất viện trong tình trạng khỏe mạnh, hoàn toàn có thể có những lần sinh nở tiếp theo. Ung thư phổi di căn tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là những tuyến hình tam giác nhỏ ở phần đầu của mỗi thận. Các tuyến nội tiết chịu trách nhiệm tiết ra kích thích tố, bao gồm cả hormone gây ra sự căng thẳng như cortisol, epinephrine adrenaline và norepinephrine. Nếu ung thư phổi đã lan rộng đến các tuyến thượng thận, nó được coi là giai đoạn 4 đối với bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ và là giai đoạn mở rộng của ung thư phổi tế bào nhỏ. Một số người, ung thư chỉ di căn tới một tuyến thượng thận thì phẫu thuật có thể giúp người bệnh sống lâu hơn. Tiên lượng đối với ung thư phổi di căn tuyến thượng thận tốt hơn so với các loại di căn khác như gan, não, và xương. Triệu chứng của ung thư phổi di căn tuyến thượng thận Hầu hết các trường hợp khi ung thư phổi lây lan đến tuyến thượng thận, nó không ra bất kỳ triệu chứng nào. Trong thực tế, theo một nghiên cứu, chỉ có 5% người có di căn tuyến thượng thận có triệu chứng. Bệnh nhân thường phát hiện do chụp X-quang, chụp CT hoặc MRI. Khi triệu chứng xuất hiện, có thể bao gồm Suy thượng thận bệnh Addison. Các triệu chứng của bệnh Addison có thể bao gồm suy nhược, huyết áp thấp hạ huyết áp, đường trong máu thấp hạ đường huyết, mức độ natri thấp trong máu hạ natri máu và mức độ kali cao tăng kali máu. Điều trị ung thư phổi di căn tuyến thượng thận Việc điều trị phụ thuộc nhiều yếu tố. Ở trường hợp này, chăm sóc hỗ trợ rất quan trọng, bởi bệnh nhân thường gặp các triệu chứng như xuất huyết, do đó phương pháp điều trị như phẫu thuật có thể cần thiết để kiểm soát các triệu chứng. Ở một số người, điều trị có thể giúp chữa bệnh. Điều trị với mục đích chữa bệnh Đối với những người chỉ di căn 1 tuyến thượng thận, phẫu thuật có thể giúp người bệnh kéo dài thời gian sống. Nếu không thể phẫu thuật, xạ trị có thể giúp ích. Tiên lượng sống Khi các tế bào ung thư đi vào máu, nó đi khắp cơ thể. Trong một nghiên cứu đánh giá về tỷ lệ sống của bệnh ung thư phổi di căn tới tuyến thượng thận, nếu ung thư phổi lây lan sang tuyến thượng thận cùng bên, tỷ lệ sống 5 năm là 83%. Ngược lại, tỷ lệ sống sót 5 năm đối với những người di căn bên tuyến thượng thận đối diện với phổi ung thư, tỷ lệ sống 5 năm với phẫu thuật là 0%. Hiện nay, Bệnh viện Thu Cúc đã trang bị hệ thống thiết bị y tế, máy móc hiện đại nhất thế giới, giúp việc tầm soát ung thư chính xác và nhanh chóng. Bên cạnh đó, Thu Cúc đã hợp tác với đội ngũ bác sĩ giỏi từ Singapore, cũng như đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, xứng tầm, bảo đảm điều trị chuẩn 100% Singapore. Để đặt lịch tư vấn điều trị ung thư với đội ngũ bác sĩ Singapore, vui lòng liên hệ đường dây nóng để được hỗ trợ tốt nhất. Tóm tắt bệnh Ung thư vỏ tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là cơ quan nội tiết quan trọng của cơ thể, vị trí gần với thận. Ung thư tuyến thượng thận là u ác tính trên tuyến thượng thận. Thể tích tuyến thượng thận tuy nhỏ, nhưng khối u lại to, thông thường đường kính nhỏ hơn 3cm là u nhỏ, u nhỏ nhất là 1cm, và u to có thể đạt 10-30cm. Triệu chứng Tăng huyết áp, yếu cơ hoặc liệt, dị cảm, tiểu nhiều, tiểu đêm, khát nước. Mặt tròn, lưng còng, béo phần giữa nhưng chân tay lại gầy, nhiều tia máu và gân tím. Mệt mỏi, suy kiệt, đau eo lưng. Nhiều lông, rụng tóc, nổi mụn trứng cá. Chức năng sinh dục giảm, tắc kinh hoặc kinh nguyệt ít, bộ phận sinh dục phát triển sớm, giả nữ tính hoặc lưỡng tính, nữ tính – nam tính hóa. Chẩn đoán Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Siêu âm kiểm tra khối u tuyến thượng thận. Chụp cắt lớp vi tính CT Scan xác định thể tích và tình trạng khối u, chụp cộng hưởng từ MRI xác định đặc tính của khối u. Kiểm tra chức năng tuyến thượng thận Epinephrine tuyến thượng thận, Norepinephrine tuyến thượng thận, Catecholamines tiết niệu, Aldosterone huyết tương, Cortisol huyết tương… Điều trị Kết hợp phẫu thuật loại bỏ khối u, xạ trị, hóa trị. Bệnh nhân không thể phẫu thuật loại bỏ khối u hoặc sau phẫu thuật khối u tái phát và di căn có thể sử dụng phương pháp điều trị xâm lấn như điều trị bằng dao Ar-he, cấy hạt phóng xạ, đốt cao tần… Tổng quan bệnh Ung thư vỏ tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là cơ quan nội tiết quan trọng của cơ thể, vị trí gần với thận. Ung thư tuyến thượng thận là u ác tính trên tuyến thượng thận. Thể tích tuyến thượng thận tuy nhỏ, nhưng khối u lại to, thông thường đường kính nhỏ hơn 3cm là u nhỏ, u nhỏ nhất là 1cm, và u to có thể đạt 10-30cm. Điều trị bệnh Ung thư vỏ tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là cơ quan nội tiết của cơ thể, hàng chục hormone được vận chuyển thông qua việc lưu thông máu đến từng cơ quan trong cơ thể, thúc đẩy quá trình sinh lý. Do vị trí tuyến thượng thận nằm tương đối khuất, nên việc điều trị cũng khá phức tạp. Các phương pháp điều trị thông thường là phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, hiện nay điều trị xâm lấn là phương pháp đang được nhiều bệnh nhân tin tưởng và tiếp nhận điều trị. 1. Phẫu thuật Ung thư vỏ tuyến thượng thận thì phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu. Đối với những người chưa di căn xa, phẫu thuật cắt bỏ khối u nguyên phát có hiệu quả khá tốt, những hạch bạch huyết ở gần cũng cần phải cắt bỏ, kiểm tra từng bệnh lý một. Nếu đã di căn xa, khối u nguyên phát vẫn có khả năng cắt bỏ, những khối u di căn thì nên cắt bỏ những khối u có thể cắt bỏ, như vậy mới có thể nâng cao hiệu quả điều trị bằng thuốc hoặc xạ trị tại chỗ. 2. Xạ trị Thích hợp trong điều trị u lympho tuyến thượng thận hoặc ung thư tuyến thượng thận di căn. Những loại ung thư này tương đối nhạy cảm với tia xạ, nên sử dụng xạ trị định hướng lập thể và xạ trị tạo hình, hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn. 3. Hóa trị Hóa trị là phương pháp điều trị hỗ trợ cho ung thư tuyến thượng thận. Mặc dù có thể tiêu diệt tế bào ung thư, nhưng đồng thời cũng tiêu diệt luôn cả tế bào bình thường và tế bào miễn diễn, gây tác dụng phụ cho người bệnh, nên không ít bệnh nhân đã từ chối hóa trị. 4. Điều trị xâm lấn Đối với những bệnh nhân ung thư tuyến thượng thận phẫu thuật không thể loại bỏ khối u hoặc sau phẫu thuật khối u tái phát và di căn có thể sử dụng phương pháp điều trị xâm lấn. Ví dụ Điều trị dao Ar-he, cấy hạt phóng xạ, đốt cao tần… So sánh với các phương pháp điều trị truyền thống, điều trị xâm lấn có những ưu điểm như vết thương nhỏ, hồi phục nhanh, hiệu quả cao, ngày càng được những bệnh nhân ung thư chọn lựa. 5. Điều trị Đông y Sử dụng thuốc uống hoặc tiêm để tiến hành điều trị, tiêu diệt tế bào ung thư bằng thuốc Đông y, điều tiết âm dương cân bằng, loại bỏ môi trường sống của tế bào ung thư, nâng cao sức đề kháng, từ đó đạt được hiệu quả điều trị. Đối với những bệnh nhân ung thư tuyến thượng thận, cơ thể suy nhược, không thể điều trị bằng hóa trị hoặc xạ trị, kết hợp dùng thuốc Đông y, có thể tự tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, nâng cao hiệu quả điều trị. Ung thư tuyến thượng thận là dạng u ác tính phát sinh tại tuyến thượng thận, được chia thành hai loại là ung thư vỏ thượng thận và u tủy thượng thận. Vỏ thượng thận và tủy thượng thận dễ phát sinh khối u, gây đột biến chức năng nội tiết nên được gọi là khối u chức năng, còn không ảnh hưởng đến chức năng nội tiết gọi là khối u phi chức năng. Biểu hiện của các triệu chứng ung thư tuyến thượng thận rất đa dạng, huyết áp cao là một trong những triệu chứng chủ yếu của ung thư tuyến thượng thận. Trên lâm sàng, có một số bệnh nhân bị cao huyết áp, mặc dù đã làm theo đúng lời dặn của bác sỹ về việc dùng thuốc hạ huyết áp nhưng huyết áp vẫn cứ cao. Vậy nguyên nhân gây ra tình trạng đó là gì? Thực ra, tăng huyết áp kháng trị và ung thư tuyến thượng thận có quan hệ mật thiết với nhau, người bệnh không nên coi thường. Vậy ung thư tuyến thượng thận có những triệu chứng gì? Triệu chứng ung thư tuyến thượng thận Ung thư vỏ thượng thận đa phần ở tính chức năng, thường có biểu hiện như nữ tính nam tính hóa, chức năng của tuyến thượng thận bị giảm đi, hơn nữa dễ bị lây lan cục bộ và di căn, nếu có hạch bạch huyết và xâm lấn sang đường máu thì thông thường bệnh nhân chỉ có thể sống trung bình khoảng 2 năm. Triệu chứng cường Aldosterone chủ yếu là do ung thư vỏ thượng thận gây ra, triệu chứng chủ yếu là cao huyết áp, thông thường từ tầm giữa giữa tăng lên cao. Loại triệu chứng thứ 2 là yếu cơ hoặc liệt, dị cảm. Loại triệu chứng thứ 3 là tiểu nhiều, tiểu đêm, khát nước. Một khi cơ thể có những triệu chứng khó chịu, đặc biệt là những bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị, cần phải chú ý, kịp thời đến bệnh viện để tiến hành chẩn đoán, tránh tình trạng bệnh để lâu sẽ càng nguy hiểm. Triệu chứng tăng sinh Cortisol là do ung thư vỏ thượng thận hoặc khối u gây ra, biểu hiện cụ thể là mặt tròn, lưng còng, béo phần giữa nhưng chân tay lại gầy, nhiều tia máu và gân tím; mệt mỏi, suy kiệt, đau eo lưng; nhiều lông, rụng tóc, mụn trứng cá; chức năng sinh dục giảm, tắc kinh hoặc kinh nguyệt ít. Triệu chứng bất thường của tuyến sinh dục do ung thư vỏ thượng thận gây ra, chia thành bộ phận sinh dục phát triển sớm, giả nữ tính hoặc lưỡng tính, nữ tính nam tính hóa. 80-90% u Pheochromocytoma là do u tủy thượng thận gây ra, triệu chứng chủ yếu là cao huyết áp và rối loạn quá trình trao đổi chất. Cao huyết áp từng cơn tăng cao, tim đập nhanh, thở dốc, đau đầu, toát mồ hôi, căng thẳng, chân tay lạnh run. U tuyến thượng thận phi chức năng chủ yếu phát tác từ tế bào mô đệm của vỏ thượng thận hoặc tủy thượng thận, bao gồm u vỏ thượng thận phi chức năng, ung thư, u nguyên bào thần kinh Neuroblastoma, đau bướu hạch thần kinh Ganglioneuroma. Bệnh viện Ung bướu Quảng Châu khuyến cáo, nếu xuất hiện những triệu chứng kể trên, cần đến ngay bệnh viện để kiểm tra là điều cấp thiết nhất, phát hiện sớm, chẩn đoán sớm, điều trị sớm. Bạn đang xem bài viết Ung Thư Tuyến Thượng Thận Chẩn Đoán Và Điều Trị được cập nhật mới nhất trên website Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Ung thư thượng thận hay còn gọi là ung thư vỏ thượng thận có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên tần suất phát hiện được nhiều ở trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn từ 40 đến 50 tuổi. Nếu bệnh được phát hiện sớm sẽ có cơ hội chữa khỏi. Tuy nhiên nếu ung thư đã lan đến các khu vực ngoài tuyến thượng thận, khả năng chữa được bệnh là thấp hơn. Thực tế hầu hết các u hình thành trong tuyến thượng thận không phải đều là ung thư. Khối u tuyến thượng thận có thể là lành tính. 1. Tuyến thượng thận nằm ở đâu và chức năng là gì? Tuyến thượng thận là tuyến nội tiết nằm ở phía trên quả thận. Mỗi người có hai quả thận, do đó cơ thể sẽ có hai tuyến thượng thận. Mineralocorticoids như là aldosterone Có tác dụng giúp điều hòa huyết áp và cân bằng điện giải. Glucocorticoids Có nhiều tác dụng trong quá trình trao đổi chất. Chúng làm tăng mức độ lưu thông glucose. Hormon này còn ức chế hệ thống miễn dịch và tác dụng chống viêm. Catecholamines Với các tác dụng bao gồm tăng huyết áp và nhịp tim. Ngoài ra, nó còn chịu trách nhiệm cho phản ứng đấu tranh chống tác nhân có hại. Hoạt động này được đặc trưng bởi việc thở nhanh và nhịp tim, tăng huyết áp và co thắt mạch máu ở nhiều bộ phận của cơ thể. Androgens Hormon này được chuyển đổi thành hormone giới tính với đầy đủ chức năng trong tuyến sinh dục và các cơ quan đích khác. 2. Ung thư tuyến thượng thận sẽ có triệu chứng gì? Ở khoảng một nửa số người bị ung thư tuyến thượng thận, các triệu chứng là do các hormone do khối u tạo ra. Trong nửa còn lại, các triệu chứng là do khối u đã phát triển quá lớn gây chèn ép lên các cơ quan lân cận. Các biểu hiện do sản xuất nhiều androgen hoặc estrogen Ung thư tuyến tượng thận có thể gây ra cường androgen hormone nam và estrogen hormone nữ. Các triệu chứng này sẽ thấy rõ rệt ở trẻ em, như là mọc quá nhiều lông trên mặt và cơ thể chẳng hạn như ở vùng mu và dưới cánh tay. Nội tiết tố này cũng có thể làm to dương vật ở bé trai hoặc âm vật ở bé gái. Nếu khối u tiết ra estrogen, các bé gái có thể bắt đầu dậy thì sớm. Các khối u sản xuất estrogen cũng có thể làm to ngực ở các bé trai. Các triệu chứng do hormone sinh dục cao ít được biểu hơn hơn ở người lớn vì họ đã bước qua tuổi dậy thì. Phụ nữ có khối u sản xuất estrogen và nam giới có khối u sản xuất androgen thường không có bất kỳ triệu chứng nào từ nội tiết tố. Các triệu chứng dễ nhận thấy hơn nếu khối u tạo ra hormone khác giới. Ví dụ, những người đàn ông có khối u tạo ra estrogen có thể gây ra vú to. Họ cũng có thể gặp các vấn đề tình dục như rối loạn cương dương và mất ham muốn tình dục. Phụ nữ có khối u tạo ra nội tiết tố androgen sẽ biểu hiện nam hóa như lông mọc trên mặt và ngực, chứng hói đầu, rối loạn kinh nguyệt và thay đổi giọng nói. Các biểu hiện do sản xuất nhiều cortisol Nồng độ cortisol quá cao gây ra một vấn đề được gọi là hội chứng Cushing với các dấu hiệu Mặt tròn như mặt trăng Mỡ tích tụ sau cổ và vai bướu mỡ hoặc bướu trâu Vết rạn da màu tím ở bụng Mọc lông nhiều trên mặt, ngực và lưng ở phụ nữ Kinh nguyệt không đều Yếu và teo cơ ở chân Trầm cảm, ủ rủ Loãng xương, có thể dẫn đến gãy xương Lượng đường trong máu cao, thường dẫn đến bệnh tiểu đường Huyết áp cao Các biểu hiện do cường aldosterone Các dấu hiệu chính do khối u tuyến thượng thận sản xuất aldosterone là Các biểu hiện này cũng có thể gặp trong u tuyến thượng thận. Các triệu chứng do khối ung thư tuyến thượng thận lớn đè lên các cơ quan lân cận Khi khối ung thư phát triển, nó chèn ép lên các cơ quan và mô lân cận. Hậu quả làm cho bệnh nhân bị đau các vùng khối u, cảm giác đầy bụng hoặc chán ăn, dễ no. 3. Ung thư tuyến thượng thận có thể phát hiện sớm không? Rất khó để phát hiện sớm ung thư tuyến thượng thận. Phần lớn phát hiện khi khối u đã khá lớn. Ung thư tuyến thượng thận thường được phát hiện sớm hơn ở trẻ em so với người lớn. Bởi vì ung thư ở trẻ em biểu hiện triệu chứng sớm và rầm rộ hơn. Trẻ em có thể phát triển các dấu hiệu dậy thì ngay từ khi còn nhỏ do các hormone sinh dục từ tế bào ung thư tuyến thượng thận tiết ra. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể phát hiện sớm một cách tình dụ trong trường hợp người bệnh cần chụp Ctscan vùng bụng vì một vấn đề sức khỏe khác. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ có các khuyến nghị chính thức về việc tầm soát sớm một số loại ung thư. Tuy nhiên vì bệnh ung thư tuyến thượng thận xảy ra rất hiếm, nên Hiệp hội không khuyến nghị xét nghiệm định kỳ loại ung thư này ở những người không có bất kỳ triệu chứng nào. 4. Các yếu tố nguy cơ của ung thư tuyến thượng thận? Tại thời điểm này, các chuyên gia vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra ung thư tuyến thượng thận. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, khoảng 15% trường hợp ung thư tuyến thượng thận là do rối loạn di truyền. Ngoài ra có một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tuyến thượng thận, bao gồm Hội chứng Beckwith-Wiedemann Đây là một rối loạn điều hòa tăng trưởng dẫn đến tăng trưởng quá mức. Các đặc điểm phổ biến nhất của hội chứng bao gồm kích thước cơ thể lớn macrosomia, lưỡi lớn macroglossia, khiếm khuyết thành bụng. Những người mắc hội chứng này cũng có nguy cơ bị ung thư thận và gan. Hội chứng Li-Fraumeni Là một chứng rối loạn di truyền gây tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư. Bệnh đa polyp tuyến gia đình FAP Là một tình trạng di truyền với đặc điểm có nhiều các khối polyp trong ruột già. Bệnh cũng gây nguy cơ cao bị ung thư ruột kết. Đa u tuyến nội tiết loại 1 MEN1 Một tình trạng di truyền gây ra nhiều khối u phát triển, cả lành tính và ác tính. Thường bị ảnh hưởng là các mô sản xuất hormone như tuyến yên, tuyến cận giáp và tuyến tụy. Hút thuốc cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến thượng thận. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có bằng chứng thuyết phục. 5. Ung thư tuyến thượng thận được chẩn đoán như thế nào? Các xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán ung thư tuyến thượng thận bao gồm Xét nghiệm máu và nước tiểu Các xét nghiệmvề máu và nước tiểu có thể cho biết mức độ bất thường của các hormone do tuyến thượng thận sản xuất, bao gồm cortisol, aldosterone và androgen. Các xét nghiệm hình ảnh Bác sĩ có thể đề nghị chụp CT, MRI hoặc chụp cắt lớp phát xạ positron PET để phát hiện sự phát triển trên tuyến thượng thận. Ngoài ra hình ảnh cũng cho ta biết ung thư đã lan đến khu vực nào. Sinh thiết tuyến thượng thận Nếu bác sĩ nghi ngờ ung thư tuyến thượng thận, bác sĩ có thể lấy một mẫu tuyến thượng thận bị ảnh hưởng. Mẫu mô mày sẽ được đem đi phân tích để xác định xem có tế bào ung thư không và là loại tế bào gì. 6. Điều trị ung thư tuyến thượng thận gồm những phương pháp gì? Điều trị ung thư tuyến thượng thận thường là phẫu thuật để loại bỏ khối ung thư. Các phương pháp điều trị khác được sử dụng để ngăn ngừa ung thư tái phát hoặc một số trường hợp không thể phẫu thuật Phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư Mục tiêu của phẫu thuật là loại bỏ toàn bộ khối ung thư tuyến thượng thận. Để đạt được điều này, các bác sĩ phải cắt bỏ tất cả các tuyến thượng thận bị ảnh hưởng. Nếu bác sĩ phẫu thuật tìm thấy bằng chứng cho thấy ung thư đã lan đến các cấu trúc lân cậnnhư gan hoặc thận. Các bộ phận hoặc tất cả các cơ quan đó cũng có thể bị cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật. Thuốc để giảm nguy cơ tái phát Một loại thuốc cũ được sử dụng để điều trị ung thư tuyến thượng thận giai đoạn cuối đã cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc trì hoãn sự tái phát của bệnh sau phẫu thuật. Mitotane Lysodren có thể được khuyên dùng sau phẫu thuật cho những người có nguy cơ tái phát ung thư cao. Xạ trị là sử dụng chùm năng lượng vớicông suất cao, chẳng hạn như tia X và proton, để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị đôi khi được sử dụng sau khi phẫu thuật ung thư tuyến thượng thận để tiêu diệt bất kỳ tế bào còn sót lại. Nó cũng có thể giúp giảm đau và làm thuyên giảm các triệu chứng khác khi ung thư đã di căn đế các bộ phận khác trên cơ thể. trị liệu Hóa trị là phương pháp điều trị bằng thuốc sử dụng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư. Đối với ung thư tuyến thượng thận không thể loại bỏ bằng phẫu thuật hoặc tái phát sau khi điều trị ban đầu, hóa trị có thể là một lựa chọn để làm chậm sự tiến triển của ung thư. 7. Tỷ lệ sống sót đối với ung thư thượng thận? Tỷ lệ sống sót có thể cho biết tỷ lệ phần trăm những người mắc cùng loại và giai đoạn ung thư vẫn còn sống trong một khoảng thời gian nhất định thường là 5 năm sau khi họ được chẩn đoán. Bác sỹ không thể cho người bệnh biết sẽ sống được bao lâu. Tuy nhiên họ có thể giúp người bệnh hiểu rõ hơn về khả năng thành công của việc điều trị. Lưu ý rằng tỷ lệ sống sót là ước tính và thường dựa trên kết quả trước đó của một số lượng lớn những người mắc bệnh ung thư cụ thể. Vì thế nó không thể cụ thể hóa con số cho từng cá thể. Những số liệu thống kê này có thể gây nhầm lẫn và gây ra nhiều thắc mặc. Cách tốt nhất là bàn luận với bác sỹ về tình trạng của mình, khả năng điều trị và tái phát. Người viết Hoàng Yến Tham vấn y khoa Bác sĩ Nguyễn Trung Nghĩa Ung thư tuyến thượng thận UNG THƯ VỎ THƯỢNG THẬN ĐẠI CƯƠNG Ung thư tuyến thượng thận là loại ung thư phát sinh từ tuyến thượng thận, được chia làm hai loại là ung thư vỏ thượng thận và ung thư tủy thượng thận u tế bào ưa crom. Ung thư vỏ thượng thận là một loại ung thư UT hiếm gặp, chiếm 0,05-0,2% tất cả các loại UT. Tỷ lệ mắc trên toàn cầu khoảng 2/ người mỗi năm, hay gặp trong khoảng tuổi 40-50. Nữ giới có tỷ lệ mắc cao gấp 2,5 lần nam giới. Nữ giới có xu hướng bị UT biểu mô có chức năng chế tiết nội tiết tố trong khi ở nam giới hay gặp loại không chức năng. Với sự gia tăng sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh siêu âm, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ, PET/CT… nhiều trường hợp được phát hiện u thượng thận khi chưa có triệu chứng lâm sàng. Ung thư vỏ thượng thận là loại UT không mang tính chất gia đình và cho tới nay người ta vẫn chưa rõ các yếu tố bệnh nguyên của nó. CHẨN ĐOÁN Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng cơ năng loại u nội tiết hoạt động chiếm 30-40% loại u ở người trưởng thành Các triệu chứng hội chứng về nội tiết bao gồm hội chứng Cushing, hội chứng nam hóa ở nữ và chứng nữ hóa ở nam. Có khoảng 40-60% UT vỏ thượng thận có biểu hiện triệu chứng về nội tiết, mức độ và tính chất của các triệu chứng này tùy thuộc vào tuổi và giới của bệnh nhân. Các biểu hiện lâm sàng như béo thân, mặt tròn đỏ, u mỡ sau gáy, rậm lông mi, tóc mai, râu, ria mép ở nữ, tóc sau gáy; tăng huyết áp, trứng cá ở mặt, lưng; rạn da màu tím đỏ, sờ vào thấy mịn như lụa và lõm dưới mặt da. Vị trí thường gặp ở vùng bụng dưới hai bên, mặt trong của đùi 2 bên, khoeo chân, nếp lằn nách, lưng; tăng cân, mệt mỏi, mất kinh ở nữ, âm vật to; rối loạn tâm lý, yếu cơ gốc chi, loãng xương, sỏi thận, đái tháo đường. Sự tăng quá mức androgen do mọi nguyên nhân làm phát triển lông giới tính cằm, môi dưới, bụng và ngực và tăng hoạt động các tuyến bã gây trứng cá. Hay gặp rối loạn kinh nguyệt, không rụng noãn, vô kinh ở nữ và có hiện tượng nam hóa ở nữ giới như hói đầu phía trước, phì đại âm vật, bắp thịt nở nang, giọng nói trầm hơn. Nếu có sự bài tiết quá mức androgen thì sẽ mất nữ tính ở nam giới như giảm kích thước tuyến vú, mất mô mỡ. Triệu chứng thực thể Khối u sờ thấy được ổ bụng khoảng 50% UT vỏ thượng thận bệnh nhân tự sờ thấy khối u ở bụng hoặc do tình cờ chụp bụng với mục đích chẩn đoán khác tìm ra. Các triệu chứng khác gồm các triệu chứng như đau bụng vùng thượng vị, sút cân, chán ăn, mệt mỏi. Khi có các triệu chứng này bệnh thường ở giai đoạn muộn. Tùy theo vị trí di căn mà có thể có các triệu chứng do các di căn gây nên. Vị trí di căn thường gặp trong UT vỏ thượng thận là phổi 71%, hạch 68%, gan 42% và xương 26%. Thể mô bệnh học Có nhiều trường hợp khối u ác tính ở thượng thận là di căn của UT nguyên phát từ các cơ quan khác như phổi, vú… Đối với u nguyên phát của vỏ thượng thận, việc phân biệt về mô bệnh học khá khó khăn giữa u tuyến lành thượng thận và UT biểu mô của thượng thận. Người ta chủ yếu dựa vào tính chất phân bào, dị bội thể và xâm lấn mạch máu. Ung thư biểu mô có hai loại chủ yếu Thể rất biệt hóa thường thấy ở nữ và thường có các triệu chứng về nội tiết. Thể bất thục sản phổ biến hơn ở nam giới. Xét nghiệm sinh học phân tử giải trình tự nhiều gen. Chẩn đoán giai đoạn Khối u nguyên phát Tx Không thể đánh giá khối u nguyên phát T0 Không có bằng chứng về khối u nguyên phát T1 Khối u ≤5cm, không xâm lấn ngoài tuyến thượng thận T3 Kích thước bất kỳ và xâm nhập ngoài tuyến thượng thận nhưng không xâm lấn các cơ quan lân cận. T4 Xâm lấn thận, cơ hoành, tuyến tụy, lách, gan, tĩnh mạch thận hoặc tĩnh mạch chủ. N Hạch vùng Nx Không thể đánh giá N0 Không di căn hạch vùng N1 Di căn hạch hạch vùng M Di căn xa M0 Chưa di căn xa M1 Di căn xa Giai đoạn T N M Giai đoạn T1 N0 M0 I T2 N0 M0 II T1 N1 M0 III T2 N1 M0 III T3 Nbất kỳ M0 III T4 Nbất kỳ M0 III Tbất kỳ Nbất kỳ M1 IV Giai đoạn Kích thước cm Hạch hoặc xâm lấn tại vùng Di căn xa I – – II – – III Bất kỳ + – IV Bất kỳ Bất kỳ + Thời gian sống trung bình đối với UT vỏ thượng thận thể rất biệt hóa là 40 tháng, thể bất thục sản là 5 tháng. Tính chung cho cả hai thể, giai đoạn I, II, III thời gian sống trung bình từ 24-28 tháng, giai đoạn IV thời gian sống là 12 tháng. ĐIỀU TRỊ Phẫu thuật Phẫu thuật cắt bỏ thành một khối en bloc là phương pháp thường được áp dụng. Có khoảng 1/2 bệnh nhân UT vỏ thượng thận khi phát hiện vẫn còn khả năng cắt bỏ được, tuy nhiên trong một số trường hợp việc cắt bỏ hoàn toàn là không thể thực hiện được. Các bệnh nhân được cắt bỏ hoàn toàn nên được kiểm tra định kỳ bằng MRI cộng hưởng từ hoặc định lượng steroid huyết thanh trong trường hợp bệnh nhân có triệu chứng về nội tiết để phát hiện tái phát. Tái phát tại vùng và một số trường hợp di căn xa cũng có thể phẫu thuật cắt bỏ nếu thực hiện được. Xạ trị Xạ trị đóng vai trò chủ yếu trong điều trị làm giảm nhẹ triệu chứng đau do u xâm lấn tại chỗ hoặc di căn xa, đặc biệt là di căn xương, não. Xạ trị cũng được dùng để phòng tái phát tại chỗ sau phẫu thuật cắt bỏ liều trung bình từ 40-55Gy trong 4 tuần. Có thể cấy hạt phóng xạ tại tổn thương u hoặc tổ chức di căn nhằm điều trị triệu chứng giảm đau … Hóa trị Hóa trị được chỉ định trong các trường hợp UT vỏ thượng thận tái phát, di căn, không cắt bỏ được. Các hóa chất dùng trong điều trị UT vỏ thượng thận bao gồm một số thuốc sau Các thuốc chặn corticoid Mitotane٭ o, p’-DDD Mitotane٭ được dùng điều trị UT vỏ thượng thận từ những năm 60. Thuốc có tác dụng ngăn chặn sự tổng hợp và tiêu diệt các tế bào tiết ra corticosteroid. Đáp ứng thường đạt được sau 6 tuần điều trị bằng giảm tiết các nội tiết tố trong máu. Một số ít trường hợp giảm tiết nội tiết tố không tương ứng với đáp ứng về kích thước u. Có khoảng 30-40% trường hợp u giảm kích thước rõ ràng, nhưng hiếm thấy trường hợp u có đáp ứng hoàn toàn. Thời gian đáp ứng trung bình là 10,5 tháng. Phối hợp xạ trị với mitotane٭ cũng không mang lại hiệu quả cao hơn so với dùng mitotane٭ đơn thuần. Nôn và buồn nôn xuất hiện ở 80% các trường hợp dùng mitotane٭, các triệu chứng về ngộ độc thần kinh cũng có thể xuất hiện nếu điều trị trong thời gian dài, ở một số ít trường hợp thấy có sự thay đổi điện thế trên điện não đồ. Suy tuyến thượng thận có ở 50% bệnh nhân nếu không được điều trị bằng nội tiết tố thay thế. Khoảng 20% bệnh nhân sử dụng mitotane٭ có biểu hiện viêm da. Điều trị glucocorticoid thay thế Trong quá trình điều trị mitotane٭, cần thiết phải điều trị dự phòng suy tuyến thượng thận bằng cách dùng cortison acetat 25mg, với 0,lmg fludrocortison acetat uống vào buổi sáng và 12,5mg uống vào buổi tối. Nên đo cortisol huyết tương để kiểm soát chức năng tuyến thượng thận trong quá trình điều trị. Nếu bệnh nhân có biểu hiện sốt hoặc tác dụng phụ nặng, ngừng ngay dùng mitotane٭ và tăng liều corticosteroid. Điều trị các trường hợp không đáp ứng với mitotane٭ Bệnh nhân UT vỏ thượng thận không đáp ứng với điều trị bằng mitotane٭ có thể dùng các tác nhân chặn corticoid thượng thận khác như metyrapone٭ 750mg uống 4 giờ 1 lần hoặc aminoglutethimide٭ với liều khởi điểm 250mg uống 6 giờ/lần sau đó tăng dần lên tới liều 2g/ngày. Thuốc khác có thể sử dụng là ketoconazol. Các thuốc gây độc tế bào Các thuốc gây độc tế bào thường được dùng khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng mitotane٭. Trên thực tế số lượng bệnh nhân này không nhiều, do vậy kinh nghiệm điều trị UT vỏ thượng thận bằng hóa trị rất giới hạn mặc dù đã có nhiều thử nghiệm lâm sàng. Không có thuốc nào được công nhận có hiệu quả trong điều trị UT vỏ thượng thận, cho dù doxorubicin, cisplatin, 5-FU, etoposide, cyclophophamide và suramin٭ có một phần tác dụng trên bệnh nhân UT vỏ thượng thận di căn. Một số tác giả đưa ra các phác đồ hóa trị phối hợp bao gồm cyclophosphamide 600mg/m2, truyền tĩnh mạch; doxorubicin, 40mg/m2, truyền tĩnh mạch, phối hợp với cisplatin 50mg/m2, truyền tĩnh mạch, chu kỳ 21 ngày, thấy có đáp ứng một phần ở 2 trong tổng số 11 bệnh nhân UT vỏ thượng thận. Ở một thử nghiệm lâm sàng khác được tiến hành trên 4 bệnh nhân dùng phác đồ cisplatin 40mg/m2, truyền tĩnh mạch, với etoposide 100mg/m2, truyền tĩnh mạch và bleomycin, 30 truyền tĩnh mạch dùng 28 ngày một đợt. Có 3 bệnh nhân đáp ứng với điều trị trong đó có 1 bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn. Tuy nhiên, tác dụng phụ đều có với mức độ rất nặng ở cả 2 nghiên cứu này. Hóa trị liệu có thể dùng phối hợp với mitotane٭, phác đồ cisplatin, 75-100mg/m2 phối hợp với mitotane٭ 4g, uống hàng ngày cho tỷ lệ đáp ứng 30% và kéo dài trong thời gian 7,9 tháng. Thời gian sống cho bệnh nhân nghiên cứu này là 11,8 tháng. Một số phác đồ khác phối hợp mitotane٭ với hóa trị cũng đang được tiến hành nghiên cứu. Một số phác đồ hóa trị được sử dụng trong điều trị ung thư vỏ thượng thận Phác đồ PE Cisplatin 25mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-3 Etoposide 100mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-3 Nhắc lại mỗi đợt sau 21-28 ngày. Mitotane٭ o, p’- DDD Mitotane٭ 2-10g/ngày, uống chia làm 3-4 lần/ngày, kết hợp với điều trị glucocorticoid và corticoid khoáng thay thế. Phác đồ Cisplatin 40mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch 3-4 Etoposide 100mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch 2-4 Doxorubicin 40mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch 1 Kết hợp Mitotane٭ 4g/ngày. Các phương pháp điều trị khác Gây tắc mạch Một phương pháp khác cũng được dùng điều trị giảm nhẹ triệu chứng của bệnh là gây tắc động mạch arterial embolization nhằm mục đích ngăn chặn khối u phát triển, giảm kích thước u và giảm đau. Các tác nhân gây tắc mạch bao gồm bột Polyvinyl alcohol và gelatin ngoại khoa. Cắt bỏ bằng sóng cao tần radiofrequency ablation có thể được sử dụng nhằm kiểm soát tại chỗ hoặc các ổ di căn cho với trường hợp bệnh không mổ được. TIÊN LƯỢNG Tiên lượng bệnh ung thư vỏ thượng thận rất xấu nếu phát hiện muộn, nếu phát hiện sớm điều trị tích cực thì kết quả cải thiện hơn. PHÒNG BỆNH Tránh các yếu tố nguy cơ có thể gây bệnh, khám sức khỏe đều đặn, khi có các triệu chứng nghi ngờ đến khám tư vấn bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán điều trị kịp thời. THEO DÕI VÀ KHÁM LẠI ĐỊNH KỲ Khi bệnh ổn định có thể theo dõi bệnh nhân định kỳ. Năm đầu 3 tháng 1 lần, từ năm thứ hai trở đi 6 tháng 1 lần. Các xét nghiệm cần làm Công thức máu, sinh hóa máu, chụp tim phổi, siêu âm bụng, chụp CT scan bụng, xạ hình tuyến thượng thận… để phát hiện các tái phát, di căn và biến chứng muộn nếu có. U TẾ BÀO ƯA CROM PHEOCHROMOCYTOMA ĐẠI CƯƠNG CHẨN ĐOÁN Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng cơ năng Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là cao huyết áp, có ở hơn 90% số bệnh nhân. Hạ huyết áp tư thế cũng là một triệu chứng hay gặp. Các triệu chứng khác bao gồm đau đầu, ra mồ hôi, đánh trống ngực, mệt mỏi, buồn nôn, xanh xám, chán ăn, đau bụng, sút cân… Triệu chứng thực thể u thường nhỏ và đơn độc khó thăm khám Các xét nghiệm chẩn đoán Nếu hàm lượng catecholamin nằm trong khoảng nên làm test kích thích glucagon định lượng catecholamin huyết tương từ 1-3 phút sau khi dùng l-2mg glucagon, nếu catecholamin tăng gấp 3 lần trở lên có thể chẩn đoán là u tế bào ưa crom. Chẩn đoán hình ảnh bằng chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ nên được làm khi nghi ngờ u tế bào ưa crom trên lâm sàng hoặc xét nghiệm sinh học. Đây cũng là phương pháp đánh giá xem bệnh nhân còn khả năng mổ lấy bỏ u đi hay không cũng như tìm các vị trí di căn nếu có. Xạ hình tuyến thượng thận bằng máy SPECT, SPECT/CT với 131I-MIBG 131I-metaiodobenzylguanidin rất hữu hiệu trong trường hợp các phương pháp chẩn đoán khác âm tính nhưng lâm sàng hoặc xét nghiệm nghi ngờ u tế bào ưa crom. MIBG cũng được dùng trong trường hợp nghi ngờ u tế bào ưa crom ngoài tuyến thượng thận. Xạ hình xương bằng máy SPECT, SPECT/CT với 99mTc-MDP để đánh giá tổn thương di căn xương, chẩn đoán giai đoạn bệnh trước điều trị, theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn. Chụp PET/CT với 18F-FDG trước điều trị để chẩn đoán u nguyên phát, chẩn đoán giai đoạn bệnh; chụp sau điều trị để theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn; mô phỏng lập kế hoạch xạ trị. Chọc tế bào bằng kim nhỏ không nên làm ở bệnh nhân u tế bào ưa crom do nguy cơ cao gây biến chứng tăng huyết áp. Trên thực tế việc chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh lý u tế bào ưa crom có phải là loại ác tính hay không rất khó khăn. Nhìn chung u ác tính thường có kích thước lớn hơn, độ bội thể DNA cao hơn và tỷ lệ tế bào giảm phân cao hơn. Một tiêu chuẩn duy nhất có thể khẳng định chẩn đoán u tế bào ưa crom ác tính khi chưa xuất hiện di căn là sự xuất hiện của các tế bào ưa crom chromaffin cells. ĐIỀU TRỊ Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính cho u nguyên phát, bệnh tái phát và thậm chí cả khi bệnh di căn. Đánh giá cẩn thận, điều trị nội khoa hợp lý trước mổ sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ cơn tăng huyết áp khi tiến hành phẫu thuật. Các tác giả khuyên bệnh nhân nên có ít nhất 2 tuần điều trị tiền phẫu. Thuốc chặn α-adrenergic với phenoxybenzamin được dùng liều khởi đầu l0mg uống 2 lần/ngày để kiểm soát huyết áp. Các thuốc điều trị thay thế cũng được chỉ định để phòng hạ huyết áp tư thế. Nên dùng các thuốc chặn β để phòng cơn nhịp nhanh và loạn nhịp. Nếu dùng các thuốc trên nhưng huyết áp bệnh nhân vẫn chưa kiểm soát được hoặc không cắt được u, trong trường hợp này sử dụng metyrosin sẽ có hiệu quả. Metyrosin thường được dùng với liều khởi đầu là 250mg uống 4 lần/ngày. Thuốc này có tác dụng hạn chế u tiết catecholamin. Xạ trị có vai trò rất hạn chế trong điều trị u tế bào ưa crom ác tính, thường dùng điều trị mang tính chất vớt vát, giảm nhẹ triệu chứng của bệnh. Hóa trị liệu cũng có vai trò hạn chế. Phối hợp cyclophosphamide với vincristine và dacarbazine cho tỷ lệ đáp ứng sinh học là 79%, đáp ứng về kích thước khối u là 57% với thời gian đáp ứng trung bình là 22 tháng. Streptozocin dùng đơn lẻ có tỷ lệ đáp ứng không quá 10%. Phác đồ hóa trị thường dùng trong điều trị u tế bào ưa crom ác tính Cyclophosphamide 750mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 1 vincristine l,4mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 1 Dacarbazine 600mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 1, 2. Chu kỳ 21 ngày. TIÊN LƯỢNG Thời gian sống trung bình đối với u tế bào ưa crom ác tính là 4 năm, tỷ lệ tái phát trong vòng 5 năm trong khoảng 10-46%. Sống thêm toàn bộ sau 5 năm có ở 52% u tế bào ưa crom ác tính. PHÒNG BỆNH Tránh các yếu tố nguy cơ có thể gây bệnh, khám sức khỏe đều đặn, khi có các triệu chứng nghi ngờ đến khám tư vấn bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán điều trị kịp thời. THEO DÕI VÀ KHÁM LẠI ĐỊNH KỲ Khi bệnh ổn định có thể theo dõi bệnh nhân định kỳ. Năm đầu 3 tháng 1 lần, từ năm thứ hai trở đi 6 tháng 1 lần. Các xét nghiệm cần làm Công thức máu, sinh hóa máu, chụp tim phổi, siêu âm bụng, chụp CT scan bụng, xạ hình tuyến thượng thận… để phát hiện các tái phát, di căn và biến chứng muộn nếu có. TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết Mai 2010. Điều trị nội khoa bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học. Nguyễn Chấn Hùng 2004. Ung bướu học nội khoa. Nhà xuất bản Y học. Mai Trọng Khoa 2014. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu. Nhà xuất bản Y học. Trần Văn Thuấn, Lê Văn Quảng, Nguyễn Tiến Quang 2019. Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học. Bùi Diệu và cs 2016. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học. Nguyễn Văn Hiếu 2010. Điều trị phẫu thuật bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học. Mai Trọng Khoa 2016. Kháng thể đơn dòng và phân tử nhỏ trong điều trị ung thư. Nhà xuất bản Y học. Mai Trọng Khoa 2013, Ứng dụng kỹ thuật PET/CT trong ung thư. Nhà xuất bản Y học. Dackiw AP, Lee JE, Gagel RF, et al 2001. Adrenal cortical carcinoma. World J Surg; 257914-926. Korf D, Goretzki PE, Lehnert H 2001. Clinical management of malignant adrenal tumors. J Cancer Res Clin Oncol; 1273143-155. Khan TS, Sundin A,Juhlin C, et al 2004. Vincristine, ciplatin, teniposide, and Cyclophosphamide combination in the treatment of recurrent or metastatic adrenocortical cancer. Med Oncol;212167-177. Bagi RP Jana, Neetu Radhakrishman 2018, Adrenal Carcinoma, Medscape. Ung Thư Vỏ Tuyến Thượng Thận Tóm tắt bệnh Ung thư vỏ tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là cơ quan nội tiết quan trọng của cơ thể, vị trí gần với thận. Ung thư tuyến thượng thận là u ác tính trên tuyến thượng thận. Thể tích tuyến thượng thận tuy nhỏ, nhưng khối u lại to, thông thường đường kính nhỏ hơn 3cm là u nhỏ, u nhỏ nhất là 1cm, và u to có thể đạt 10-30cm. Triệu chứng Tăng huyết áp, yếu cơ hoặc liệt, dị cảm, tiểu nhiều, tiểu đêm, khát nước. Mặt tròn, lưng còng, béo phần giữa nhưng chân tay lại gầy, nhiều tia máu và gân tím. Mệt mỏi, suy kiệt, đau eo lưng. Nhiều lông, rụng tóc, nổi mụn trứng cá. Chức năng sinh dục giảm, tắc kinh hoặc kinh nguyệt ít, bộ phận sinh dục phát triển sớm, giả nữ tính hoặc lưỡng tính, nữ tính – nam tính hóa. Chẩn đoán Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Siêu âm kiểm tra khối u tuyến thượng thận. Chụp cắt lớp vi tính CT Scan xác định thể tích và tình trạng khối u, chụp cộng hưởng từ MRI xác định đặc tính của khối u. Kiểm tra chức năng tuyến thượng thận Epinephrine tuyến thượng thận, Norepinephrine tuyến thượng thận, Catecholamines tiết niệu, Aldosterone huyết tương, Cortisol huyết tương… Điều trị Kết hợp phẫu thuật loại bỏ khối u, xạ trị, hóa trị. Bệnh nhân không thể phẫu thuật loại bỏ khối u hoặc sau phẫu thuật khối u tái phát và di căn có thể sử dụng phương pháp điều trị xâm lấn như điều trị bằng dao Ar-he, cấy hạt phóng xạ, đốt cao tần… Tổng quan bệnh Ung thư vỏ tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là cơ quan nội tiết quan trọng của cơ thể, vị trí gần với thận. Ung thư tuyến thượng thận là u ác tính trên tuyến thượng thận. Thể tích tuyến thượng thận tuy nhỏ, nhưng khối u lại to, thông thường đường kính nhỏ hơn 3cm là u nhỏ, u nhỏ nhất là 1cm, và u to có thể đạt 10-30cm. Điều trị bệnh Ung thư vỏ tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là cơ quan nội tiết của cơ thể, hàng chục hormone được vận chuyển thông qua việc lưu thông máu đến từng cơ quan trong cơ thể, thúc đẩy quá trình sinh lý. Do vị trí tuyến thượng thận nằm tương đối khuất, nên việc điều trị cũng khá phức tạp. Các phương pháp điều trị thông thường là phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, hiện nay điều trị xâm lấn là phương pháp đang được nhiều bệnh nhân tin tưởng và tiếp nhận điều trị. 1. Phẫu thuật Ung thư vỏ tuyến thượng thận thì phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu. Đối với những người chưa di căn xa, phẫu thuật cắt bỏ khối u nguyên phát có hiệu quả khá tốt, những hạch bạch huyết ở gần cũng cần phải cắt bỏ, kiểm tra từng bệnh lý một. Nếu đã di căn xa, khối u nguyên phát vẫn có khả năng cắt bỏ, những khối u di căn thì nên cắt bỏ những khối u có thể cắt bỏ, như vậy mới có thể nâng cao hiệu quả điều trị bằng thuốc hoặc xạ trị tại chỗ. 2. Xạ trị Thích hợp trong điều trị u lympho tuyến thượng thận hoặc ung thư tuyến thượng thận di căn. Những loại ung thư này tương đối nhạy cảm với tia xạ, nên sử dụng xạ trị định hướng lập thể và xạ trị tạo hình, hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn. 3. Hóa trị Hóa trị là phương pháp điều trị hỗ trợ cho ung thư tuyến thượng thận. Mặc dù có thể tiêu diệt tế bào ung thư, nhưng đồng thời cũng tiêu diệt luôn cả tế bào bình thường và tế bào miễn diễn, gây tác dụng phụ cho người bệnh, nên không ít bệnh nhân đã từ chối hóa trị. 4. Điều trị xâm lấn Đối với những bệnh nhân ung thư tuyến thượng thận phẫu thuật không thể loại bỏ khối u hoặc sau phẫu thuật khối u tái phát và di căn có thể sử dụng phương pháp điều trị xâm lấn. Ví dụ Điều trị dao Ar-he, cấy hạt phóng xạ, đốt cao tần… So sánh với các phương pháp điều trị truyền thống, điều trị xâm lấn có những ưu điểm như vết thương nhỏ, hồi phục nhanh, hiệu quả cao, ngày càng được những bệnh nhân ung thư chọn lựa. 5. Điều trị Đông y Sử dụng thuốc uống hoặc tiêm để tiến hành điều trị, tiêu diệt tế bào ung thư bằng thuốc Đông y, điều tiết âm dương cân bằng, loại bỏ môi trường sống của tế bào ung thư, nâng cao sức đề kháng, từ đó đạt được hiệu quả điều trị. Đối với những bệnh nhân ung thư tuyến thượng thận, cơ thể suy nhược, không thể điều trị bằng hóa trị hoặc xạ trị, kết hợp dùng thuốc Đông y, có thể tự tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, nâng cao hiệu quả điều trị. Ung Thư Tuyến Thượng Thận U Tủy Thượng Thận Ở Chó U tủy thượng thận ở chó là một khối u ở tuyến thượng thận, khiến cho các tuyến sản xuất quá nhiều hormone. Tình trạng này có thể làm tăng nhịp tim, huyết áp, và nhịp thở. Những triệu chứng này xảy ra theo từng cơn không xuất hiện liên tục bởi vì các hormone gây ra chúng không được sản xuất liên tục hoặc được sản xuất với số lượng thấp. U tủy thượng thận rất hiếm gặp ở chó. Bệnh thường xảy ra ở những con chó hơn bảy tuổi nhưng cũng có thể xảy ra ở những con chó nhỏ. Bởi vì khối u này ảnh hưởng đến tuyến nội tiết có chức năng lan truyền hocmon, U tủy thượng thận thường lan truyền đến các cơ quan gần chúng và có thể nhanh chóng di căn đến các vùng khác của cơ thể. Các triệu chứng và phân loại bệnh Yếu Run rẩy Suy sụp Không có cảm giác thèm ăn Biếng ăn Thiếu năng lượng lờ phờ Không quan tâm đến các hoạt động thường ngày trầm cảm Thở hổn hển Thở nhanh hô hấp nhanh Đi tiểu nhiều lần chứng đái nhiều Khát nước liên tục chứng khát nhiều Đi lại bồn chồn Co giật Chướng bụng Các triệu chứng xuất hiện trong thời gian ngắn Đôi khi không có triệu chứng Nguyên nhân U tủy thượng thận là bệnh tự phát, vì không có nguyên nhân rõ ràng gây ra tình trạng này. Chẩn đoán Nếu nhịp tim của chó rất nhanh, hoặc tim có nhịp đập bất thường, bác sĩ thú y có thể cần thực hiện điện tâm đồ ECG để kiểm tra khả năng xung điện của tim. Bác sĩ thú y cũng sẽ chụp X- quang và/hoặc siêu âm hình ảnh bụng và ngực của chó. Nếu có bất thường trong cơ quan nội tạng, chúng có thể xuất hiện trên hình ảnh siêu âm hoặc chụp X-quang. Các xét nghiệm chẩn đoán thêm có thể bao gồm chụp cắt lớp vi tính CT hoặc hình ảnh cộng hưởng từ MRI. Những công cụ hình ảnh này là các kiểm tra về độ nhạy chất lượng hơn, có thể cung cấp hình ảnh chi tiết hơn về các cơ quan nội tạng của chó. Để xác nhận chẩn đoán cuối cùng, bác sĩ thú y của bạn sẽ cần phải lấy sinh thiết tuyến thượng thận để phân tích trong phòng thí nghiệm. Chó bị u tủy thượng thận thường sẽ có thêm các vấn đề sức khỏe khác được chẩn đoán và sẽ thực hiện điều trị với tình trạng nguy kịch hơn. Cập nhật thông tin chi tiết về Ung Thư Tuyến Thượng Thận Chẩn Đoán Và Điều Trị trên website Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành! Mục lục Ung thư thận là gì? Nguyên nhân ung thư thận Dấu hiệu ung thư thận không nên bỏ qua Tiểu ra máu Đau hoặc tức vùng lưng hông Mệt mỏi, thiếu máu Sụt cân đột ngột Sốt Kỹ thuật chẩn đoán ung thư thận Điều trị ung thư thận Phẫu thuật Điều trị bổ trợ Phương pháp trị liệu miễn dịch Phòng tránh ung thư thận 1. Ung thư thận là gì? Ung thư thận là một loại ung thư khởi phát từ các tế bào trong thận. Thận là 2 cơ quan nằm ngay ở trên thắt lưng, mỗi cái nằm một bên xương sống. Đây là một phần của hệ thống tiết niệu, nhiệm vụ chính là lọc máu và tạo ra nước tiểu để loại bỏ các chất thải của cơ thể. Hình ảnh khối u trong thận Nguồn Internet Ung thư thận có nhiều dạng, trong đó dạng phổ biến nhất là ung thư biểu mô tế bào thận. Các dạng khác ít phổ biến hơn bao gồm Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp Chiếm 5 – 10% các ca ung thư thận. Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp khởi phát từ các tế bào chuyển tiếp ở niêm mạc bể thận. Khối u Wilms Thường xảy ra ở trẻ em và rất hiếm khi xảy ra ở người trưởng thành. Ung thư Sacôm Sacorma ở thận Là một dạng hiếm của ung thư thận chiếm khoảng 1% các ca ung thư thận và khởi phát từ các mạch máu hoặc mô liên kết của thận. 2. Nguyên nhân ung thư thận Mặc dù các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác gây ung thư thận nhưng các yếu tố sau được khuyến cáo có thể là nguyên nhân dẫn đến ung thư thận Hút thuốc lá. Béo phì. Nghề nghiệp thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, tia xạ,… Thường xuyên sử dụng thuốc chống viêm như ibuprofen và naproxen,…hoặc lạm dụng thuốc giảm đau. Tiền sử gia đình có người mắc ung thư thận. Trước đó từng điều trị ung thư tinh hoàn hoặc ung thư cổ tử cung. Ngoài các yếu tố trên, những người bị sỏi thận và tăng huyết áp cũng có nguy cơ cao mắc ung thư thận. 3. Dấu hiệu ung thư thận không nên bỏ qua Ung thư thận giai đoạn đầu khi kích thước khối u dưới 7cm, bệnh thường không có triệu chứng điển hình. Ở giai đoạn muộn, khoảng 30% người bệnh có triệu chứng đau bụng, tiểu ra máu,…Cụ thể, dưới đây là một số dấu hiệu phổ biến của ung thư thận. Tiểu ra máu Nếu bạn thấy nước tiểu có màu hồng, nâu hoặc đổi màu nhẹ so với bình thường thì có thể đó là dấu hiệu của ung thư thận. Thông thường, bạn có thể nhìn thấy bằng mắt thường khi đi tiểu, nhưng nếu lượng máu rất ít, chỉ có thể phát hiện khi phân tích nước tiểu. Đau hoặc tức vùng lưng hông Đau do ung thư thận thường xuất phát ở một bên sườn, vùng lưng hông. Cơn đau có thể kéo dài và dao động từ âm ỉ đến dữ dội. Đau lưng ở vùng thận thường xuyên coi chừng mắc bệnh ung thư thận Nguồn Internet Mệt mỏi, thiếu máu Mệt mỏi là một triệu chứng khá phổ biến ở hầu hết bệnh nhân ung thư nói chung. Các tế bào ung thư phát tác làm cản trở những chức năng và hoạt động bình thường của cơ thể, khiến người bệnh dễ suy nhược. Ở bệnh nhân ung thư thận, tình trạng thiếu máu cũng có thể gây ra mệt mỏi và suy nhược nghiêm trọng. Sụt cân đột ngột Sụt cân đột ngột thường xảy ra khi bệnh nhân bị ung thư dù họ không ăn kiêng hay muốn giảm cân. Nguyên nhân thường do bệnh nhân mất cảm giác thèm ăn nên biếng ăn và thiếu dinh dưỡng. Sốt Sốt không rõ nguyên nhân cũng có thể là dấu hiệu của ung thư thận, đặc biệt là khi kết hợp với các triệu chứng trên. Lưu ý Các triệu chứng trên cũng có thể do một số bệnh lành tính gây ra mà không phải ung thư thận. Do đó, nếu có bất kỳ triệu chứng nào bất thường, bạn nên đi khám để kiểm tra, phát hiện sớm bất kỳ căn bệnh nào cũng đều có cơ hội chữa trị thành công cao. 4. Kỹ thuật chẩn đoán ung thư thận Bác sĩ có thể chẩn đoán ung thư thận qua khám lâm sàng triệu chứng và thực hiện một số xét nghiệm ung thư thận sau Xét nghiệm nước tiểu. Xét nghiệm máu. Siêu âm để kiểm tra các mô ở thận. Chụp CT hoặc chụp MRI. Chụp X-quang. Sinh thiết. Tùy vào tình trạng sức khỏe và lựa chọn của bệnh nhân mà bác sĩ có thể thực hiện phương pháp xét nghiệm khác nhau để chẩn đoán chính xác. 5. Điều trị ung thư thận Các phương pháp điều trị ung thư thận gồm Phẫu thuật Cắt bỏ u là phương pháp điều trị chính trong ung thư tế bào thận. Có 2 phương pháp phẫu thuật là cắt thận bán phần và cắt thận toàn bộ kèm vét hạch hệ thống và lấy bỏ hết tổ chức mỡ quanh thận. Có thể mổ mở hoặc mổ nội soi hay mổ nội soi robot. Đối với bệnh nhân ung thư thận di căn thì chỉ định cắt khối u tiên phát vẫn được đặt ra kết hợp với phẫu thuật tổn thương di căn hoặc phẫu thuật khối di căn với mục đích điều trị triệu chứng. Điều trị bổ trợ Xạ trị Năng lượng cao được đưa vào cơ thể để tiêu diệt tế bào ung thư và giảm thiểu triệu chứng đau khi bệnh đã di căn vào xương. Máy chiếu xạ sẽ hướng tia xạ vào vùng bị bệnh để điều trị kết hợp bảo vệ các mô lành khỏi sự tấn công của khối u. Song song với đó, các bác sĩ sẽ đưa các loại thuốc hóa trị vào cơ thể để chống lại tế bào ung thư và ngăn cản sự tái phát của chúng. Hóa trị Hóa trị thường không được sử dụng trong điều trị ung thư thận. Tuy nhiên, nó có thể sử dụng trước khi tiến hành phẫu thuật để thu nhỏ khối u, làm cho việc loại bỏ dễ dàng hơn hoặc sử dụng để điều trị các tế bào ung thư di căn đến các phần xa của cơ thể. Phương pháp trị liệu miễn dịch Phương pháp này bao gồm sử dụng các tác nhân sinh học như interferon, sunitinib và bevacizumab. Đây là một phương thức điều trị mới hơn và cho thấy một số thành công trong việc điều trị ung thư thận giai đoạn cuối. 6. Phòng tránh ung thư thận Để phòng tránh ung thư thận, bạn nên thực hiện một số biện pháp sau Hãy tập thói quen bỏ thuốc lá để thoát khỏi nguy cơ mắc bệnh ung thư thận Nguồn Internet Từ bỏ thói quen hút thuốc lá và lạm dụng bia rượu. Tăng cường vận động cơ thể thông qua các bài tập thể dục mỗi ngày. Áp dụng chế độ ăn uống cân bằng dưỡng chất, tăng cường rau xanh, trái cây. Không tự ý sử dụng thuốc điều trị đối với bất kỳ bệnh lý nào. Không nhịn tiểu. Thường xuyên kiểm tra định kỳ huyết áp và lượng đường trong máu. Bệnh ít được cộng đồng chú ý nên thường bị bỏ qua các triệu chứng cảnh báo, khó phát hiện và điều trị sớm. "Ung thư tử thần" Theo Tổ chức Ung thư toàn cầu GLOBOCAN, ung thư tụy đứng hàng thứ 8-9 về số lượng người mắc trên toàn thế giới. Ước tính, năm 2018, Việt Nam có gần người mắc mới ung thư tụy và gần 900 trường hợp tử vong. Ung thư tụy được đánh giá là bệnh khó phát hiện, khó điều trị và có tỷ lệ tử vong cao. Vì vậy, bệnh được gọi là "ung thư tử thần". Bác sĩ Nguyễn Ngọc Anh, Trưởng Khoa Ung bướu và Y học hạt nhân, Bệnh viện Nhân dân 115 cho biết Ghi nhận tại Bệnh viện Nhân dân 115, thông thường khi đến khám, điều trị tại bệnh viện, bệnh nhân đã bộc phát các triệu chứng, ở vào giai đoạn trễ giai đoạn 4. Có khoảng 80-85% bệnh nhân đến khám và điều trị ở giai đoạn trễ. Nếu bệnh nhân mổ được chỉ khoảng 5% sống sót sau 5 năm, tỷ lệ lệ tử vong trước 5 năm lên đến 95%. Bệnh nhân ung thư tụy không thể phẫu thuật có tỷ lệ tử vong gần 60-70% trong những năm đầu. “Ở giai đoạn 4, hầu như không thể phẫu thuật. Lúc này chỉ điều trị triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ, giải quyết các biến cố do tắc mạch gây ra, thời gian sống còn của bệnh nhân ngắn”, bác sĩ Ngọc Anh nhận định. Theo bác sĩ Ngọc Anh, tuyến tụy liên quan đến gan, mật. Khi ung thư tụy phát triển sẽ chèn ép vào đường mật, gây tắc mật, dẫn đến gan ứ mật và suy gan. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng suy gan trước khi ung thư tụy hoành hành. Việc phẫu thuật điều trị ung thư tụy cũng phức tạp, bệnh nhân phải trải qua một cuộc phẫu thuật lớn, cắt bỏ rất nhiều cơ quan trong ổ bụng nên chất lượng sống rất kém. Bác sĩ Ngọc Anh cho biết, bệnh khó phát hiện do tuyến tụy nằm sau dạ dày. Các triệu chứng lâm sàng hoặc kiểm tra cận lâm sàng như siêu âm, CT... rất khó phát hiện, chỉ khi u lớn mới phát hiện được. “Đến khi xuất hiện các triệu chứng ra bên ngoài như đau âm ỉ vùng thượng vị, sụt cân, vàng da, vàng mắt hoặc xuất hiện cục bướu ở ổ bụng thì bệnh thường đã ở giai đoạn trễ”, bác sĩ Ngọc Anh đánh giá. Dấu hiệu cảnh báo bệnh Bác sĩ Ngọc Anh khuyến cáo Ung thư tụy có các triệu chứng như bệnh tiểu đường, đau bụng, xuất hiện cục máu đông không rõ nguyên nhân, tiêu chảy và phân nổi, vàng da, giảm cân không rõ nguyên nhân, thay đổi khẩu phần ăn... thường là khởi đầu của bệnh lý ác tính về ống tiêu hóa nói chung. “Những dấu hiệu khởi đầu nói trên rất quý giá. Khi có những dấu hiệu này, người dân cần đi kiểm tra để phát hiện sớm ung thư tụy và điều trị kịp thời”, bác sĩ Ngọc Anh khuyên. Hiện tại, điều trị ung thư tụy có thể kết hợp nhiều phương pháp như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị với điều trị nhắm trúng đích, điều trị miễn dịch học, chăm sóc nâng đỡ bệnh nhân. Phương pháp điều trị tùy thuộc vào giai đoạn ung thư tụy của mỗi bệnh nhân. Theo bác sĩ Ngọc Anh, phẫu thuật điều trị ung thư tụy bằng cách cắt bỏ những khối u ở vùng đầu tụy, thân tụy, đuôi tụy... Một ca phẫu thuật ung thư đầu tụy phải cắt rất nhiều cơ quan như dạ dày, túi mật, đường mật, tá tràng, ruột non... làm chất lượng cuộc sống bệnh nhân bị ảnh hưởng rất nhiều. Cho đến nay, y học vẫn chưa xác định chính xác nguyên nhân ung thư tụy. Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ cao dẫn đến ung thư tụy được các bác sĩ khuyến cáo gồm Lạm dụng rượu bia, chất có cồn gây ra viêm tụy mạn tính. Những bệnh nhân viêm tụy mạn tính có tỷ lệ ung thư tụy cao gấp 20 lần bình thường, cũng như ảnh hưởng đến vấn đề tiểu đường và các bệnh nội tiết khác... Bệnh nhân hút thuốc lá có tỷ lệ ung thư tụy cao gấp 16 lần bình thường. Ăn quá mặn, quá nhiều chất béo cũng là những yếu tố cao gây ung thư. “Đặc biệt, người có ba, mẹ, anh, chị, em ruột bị ung thư tụy nên có ý thức tầm soát ung thư vì đây là bệnh lý có tính di truyền”, bác sĩ Ngọc Anh khuyến cáo thêm.

ung thu tuyen thuong than