việt nam học được gì từ nhật bản

Giải VĐQG lứa tuổi U18 ở Nhật Bản có tới 20 đội tham dự, thi đấu gần như quanh năm và không ngừng cung cấp tài năng các đội tuyển quốc gia. Nhật Bản đã nâng giới hạn về số lượng người được cấp phép nhập cảnh mỗi ngày từ mức 20.000 người hiện nay lên 50.000 người, theo hãng tin Kyodo News. Nhật Bản du học sinh Việt Nam Dòng sự kiện 2022-09-09 Cách gửi hàng từ Nhật về Việt Nam. Bước 1: Liên hệ Cường Phát Logistics để khai báo sản phẩm hàng hóa cần gửi về Việt Nam, cân nặng, khối lượng…. Bước 2: Đóng gói hàng hóa chuẩn quy cách. Đối với 1 số mặt hàng khách hàng sẽ phải đóng gói chuẩn quy cách để Việt Nam Phong Tục (Tái Bản 2020) Nhà cung cấp: Nhà Xuất Bản Kim Đồng. Tác giả: Phan Kế Bính. Nhà xuất bản: NXB Kim Đồng. Hình thức bìa: Bìa Cứng. (2 đánh giá) 151.000 đ. 159.000 đ -5%. báo chí nói gì về Dũng Mori. Dũng Mori và bước ngoặt trở thành nhà đào tạo tiếng Nhật chuyên nghiệp. Chàng trai 8x quyết tâm xây hệ sinh thái học tiếng Nhật toàn diện cho người Việt. Sống ở Nhật Bản nhưng chàng trai vẫn điều hành công ty giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam có thể học tập những gì từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản? Xét về Nhật Bản, yếu tố quan trọng nhất để đem tới sự phát triển này đó chính là con người. Người Nhật ngoài sự cần cù, khả năng sáng tạo, họ còn có một tinh thần kỷ luật thép, một Vay Tiền Nhanh Cầm Đồ. Theo chia sẻ của TS. Phạm Việt Dũng, Tạp chí Cộng sản, Việt Nam cần học hỏi các bài học công nghiệp hoá từ chính các nước phát triển. x Nhật Bản Ngành công nghiệp Nhật Bản trải qua ba giai đoạn Từ 1945 - 1950 Đây là thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh, Nhà nước bằng cơ chế chính sách đặt trọng tâm vào xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển một số ngành công nghiệp cơ bản, như điện, thép, đóng tàu. Từ cuối năm 1950 - 1970 Nhật Bản phát triển với tốc độ cao, diễn ra hàng loạt các cải tiến kỹ thuật. Đã thực hiện chính sách công nghiệp hóa toàn diện, vừa phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế nhập khẩu, vừa mở rộng cơ sở công nghiệp phát triển các ngành mới có triển vọng, trong đó trọng tâm là sự tổng hợp cơ khí thông dụng, phụ tùng máy móc điện tử. Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện cho hướng phát triển này, như hạn chế nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp. Từ năm 1970 Nhật Bản thực hiện tự do hóa đầu tư, phát triển cơ chế thị trường, nhà nước giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh. Trọng tâm của chính sách công nghiệp là đưa được nhận định và triển vọng tương lai của các ngành công nghiệp theo hướng cải cách cơ cấu ngành nghề. Sau giai đoạn này, hình thành những doanh nghiệp mạnh, chiếm lĩnh trong từng lĩnh vực, là cơ sở đưa đến sự phát triển nhanh chưa từng có của công nghiệp Nhật Bản. Hiện nay, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư CMCN Chính phủ Nhật Bản đã từng bước ban hành và triển khai các chính sách để thúc đẩy CMCN Đặc biệt, việc phổ biến và phát triển công nghệ internet kết nối vạn vật IoT và CMCN đã được Nhật Bản đẩy mạnh. Tháng 4/2014, Bộ phận Hệ thống sản xuất của Hiệp hội Kỹ sư Cơ khí Nhật Bản JSME-MSD và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp METI cùng hợp tác thúc đẩy các doanh nghiệp Nhật Bản hợp tác với nhau, xây dựng mô hình kết nối chung, kết quả là tổ chức “Sáng kiến ​​Chuỗi giá trị ngành công nghiệp” IVI được thành lập và chính thức đi vào hoạt động vào tháng 6/2015. Tháng 01/2016, “Kế hoạch cơ bản về Khoa học và Công nghệ lần thứ 5 giai đoạn 2016 – 2020” được công bố, trong đó đề xuất xây dựng một xã hội siêu thông minh hay còn gọi là “Xã hội Mục tiêu chính của “Xã hội là giải quyết các vấn đề xã hội bằng cách kết nối các hệ thống sử dụng công nghệ số làm nền tảng hợp nhất không gian thực và không gian số. Đây là xã hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu của từng cá nhân. Hàn Quốc Từ sau Chiến tranh Triều Tiên kết thúc đến năm 1962, trọng tâm phát triển công nghiệp là các ngành sản xuất hàng thay thế nhập khẩu bằng cách sử dụng nguyên liệu do Mỹ viện trợ như chế biến thực phẩm, tơ sợi, may mặc. Mức tăng thu nhập quốc dân theo đầu người hàng năm chỉ đạt 1,1%. Song những năm 1960 dựa vào thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Các ngành được coi trọng là tơ sợi và công nghiệp nhẹ, gia công nông sản, giai đoạn này mức tăng trưởng thu nhập bình quân hàng năm tăng lên đến 6,7% - 8%. Từ năm 1973, Hàn Quốc bắt đầu xây dựng các ngành công nghiệp nặng nhằm cung cấp nguyên liệu và máy móc cần thiết cho các ngành khác, đồng thời nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu như thép, đóng tàu, điện tử, ô tô và hóa chất. Bên trong dây chuyền lắp ráp ô tô tự động của Hàn Quốc Với chiến lược phát triển công nghiệp này, Hàn Quốc trở thành một trong những nước công nghiệp phát triển. Sau cuộc khủng hoảng châu Á, chiến lược phát triển công nghiệp của Hàn Quốc cũng được đánh giá lại, những ngành công nghiệp công nghệ cao được ưu tiên hỗ trợ phát triển. Tháng 6/2014 Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức đưa ra chiến lược “Cải cách công nghiệp sản xuất Chiến lược này đồng nghĩa với CMCN phiên bản Hàn Quốc và là một phần trong sáng kiến hàng đầu của Tổng thống Park Gun-hye về “Kế hoạch kinh tế sáng tạo” trước đó. Mục tiêu chính của Chiến lược “Cải cách công nghiệp sản xuất gồm - Thúc đẩy việc tích hợp sản xuất và công nghệ thông tin IoT, từ đó tạo ra một ngành công nghiệp mới với mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp sản xuất/chế tạo của Hàn Quốc. - Xác lập vị thế của Hàn Quốc như một cường quốc về công nghệ thông tin với sự tích hợp của ngành công nghiệp công nghệ thông tin và nền sản xuất căn bản. - Đến 2020, xây dựng được nhà máy thông minh với tổng vốn đầu tư khoảng 24 nghìn tỷ KRW khoảng 23 tỷ USD, trong đó hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ Hàn Quốc chỉ dưới 10% và phần chính còn lại sẽ thu hút từ nguồn vốn tư nhân. - Thúc đẩy sự phát triển SMEs thành các doanh nghiệp có tiềm năng lớn, thông qua thông qua việc sử dụng các công nghệ nhà máy thông minh. Mục tiêu này là phản ứng trước áp lực gia tăng đối với nền kinh tế Hàn Quốc do chất lượng sản xuất của Trung Quốc ngày càng được cải thiện. - Chú trọng nâng cao các ngành công nghiệp sản xuất của Hàn Quốc bằng "năng lực mềm" thông qua tăng cường thúc đẩy sự tăng trưởng của các lĩnh vực/phân đoạn sản xuất kết hợp với công nghệ thông tin, phát triển công nghệ cốt lõi liên quan đến IoT, in 3D và dữ liệu lớn. - Mục tiêu đến năm 2024 giá trị sản xuất xuất khẩu của Hàn Quốc đạt tỷ USD, nằm trong top 4 sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Đức, vượt qua Nhật Bản. Đài Loan Trung Quốc Giai đoạn 1948 - 1958, dựa vào tài sản thu được từ chiến tranh và nguyên liệu nhập khẩu, bằng viện trợ của Mỹ, Đài Loan Trung Quốc thực hiện công nghiệp hóa để thay thế hàng nhập khẩu, mức thu nhập bình quân theo đầu người chỉ tăng 3%. Từ năm 1958 - 1970, bằng hàng loạt chính sách như thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xây dựng các khu chế xuất, vay vốn lãi suất thấp... Đài Loan đã chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa hướng tới xuất khẩu, đưa mức tăng thu nhập quốc dân lên gấp đôi giai đoạn trước. Các ngành công nghiệp được chú trọng phát triển là tơ sợi, chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ chế biến, điện tử và điện gia đụng và trở thành các ngành xuất khẩu quan trọng. Trong thập kỷ 70, trên cơ sở tiềm lực kinh tế đã đạt được, Đài Loan phát triển các ngành công nghiệp nặng then chốt như gang thép, đóng tàu, hóa dầu, đồng thời tiếp tục phát triển các ngành hàng hướng vào xuất khẩu. Sang thập kỷ 80, Đài Loan điều chỉnh lại cơ cấu ngành công nghiệp nhằm nâng cao trình độ hơn, với hướng tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, xử lý thông tin, cơ khí và chế tạo linh kiện ô-tô, coi đó là những ngành chiến lược. Thập niên đầu thế kỷ XXI đến nay, Đài Loan phát triển nền kinh tế chú trọng đổi mới sáng tạo và liên kết với toàn cầu. Hiện nay, Đài Loan vẫn tiếp tục nâng cấp ngành của mình theo các hướng sau - Năm 2002, Đài Loan đề ra kế hoạch 6 năm phát triển kinh tế gọi là “Challenge 2008”. Hai trong bảy mục tiêu của kế hoạch này là tăng số lượng sản phẩm và công nghệ đáp ứng tiêu chuẩn cao nhất của thế giới, và tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển lên 3% GDP. Trong 10 lĩnh vực được nhất mạnh có phát triển thế hệ con người mới, đưa Đài Loan trở thành lãnh thổ kỹ thuật số và là đại bản doanh của các công ty xuyên quốc gia. - Phát triển 6 ngành công nghiệp chủ đạo mới du lịch, y tế và chăm sóc sức khỏe, công nghệ sinh học, năng lượng xanh, văn hóa và nghỉ dưỡng, nông nghiệp cao cấp. - Phát triển 4 ngành công nghiệp thông minh mới điện toán đám mây, phương tiện vận tải điện EV thông minh, kiến trúc thông minh thân thiện môi trường, ứng dụng công nghiệp các bằng sáng chế. Bài học rút ra cho Việt Nam Sản xuất ô tô tại Việt Nam Điểm chung lớn nhất là, mỗi nước đều khai thác tối đa những lợi thế so sánh về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, các nguồn lực về tài nguyên, lao động, nguồn vốn, khoa học, công nghệ, vị trí địa lý... để phát triển những ngành nghề trọng tâm mà chiến lược phát triển đặt ra, phù hợp từng giai đoạn, đặc biệt trong bối cảnh CMCN Trong những năm tới, hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển là xu hướng chủ đạo, mặt khác, cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao làm tăng nhanh sản lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa đời sống kinh tế và đời sống xã hội. Vì vậy, chỉ những quốc gia nào biết phát huy những lợi thế của mình, xác định được chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển một nền kinh tế mở và hợp với xu thế của thế giới mới thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò quản lý của nhà nước với các chính sách vĩ mô rất quan trọng, đặc biệt là trong những giai đoạn đầu của công nghiệp hóa khi mà những mất cân đối còn tồn tại nhiều trong nền kinh tế - xã hội. Sự quản lý của nhà nước thông qua pháp luật, chính sách bảo đảm cho sự phát triển đúng hướng đề ra những mối quan hệ quốc tế, mối quan hệ trong nội bộ nền kinh tế, trong các ngành thuận lợi, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển. Một bài học nữa là, tùy theo đặc điểm tình hình của mỗi nước về kinh tế - xã hội mà mỗi nước lựa chọn cho mình hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nào cho hợp lý và có kết quả nhất. Thực tiễn cho thấy, trong những giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do ít vốn, lao động nhiều. Chỉ khi tiềm lực kinh tế đã khá vững mới chuyển sang phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao. Để minh họa cho mối quan hệ Chương trình – Sách giáo khoa và thực tiễn giáo dục của giáo viên, tôi xin được dẫn ra một ví dụ cụ thể về thực tiễn giáo dục mà tôi có tham gia chứng kiến ở một vài công đoạn, do cô Kawasaki tiến hành ở Trường Tiểu học Hiyoshidai, thành phố Takatsuki, phủ Osaka. Thực tiễn giáo dục này được cô Kawasaki đặt tên là “Hai nông gia chuyên nghiệp ông Fujita và ông Naito”. Để thực hiện loạt giờ học về nông nghiệp với tên gọi nói trên, cô Kawasaki đã đi điều tra thực tế, thu thập thông tin và phỏng vấn một nông gia nổi tiếng trong vùng là ông Naito. Cô phát hiện ra điểm mấu chốt là 10 năm trước, ông là nông gia dùng nông dược nhưng rồi sau vụ ngộ độc thuốc trừ sâu, ông suy nghĩ và đi đến quyết định không sử dụng nông dược trong quá trình sản xuất nữa. Cô Kawasaki đã sử dụng bước ngoặt này như một điểm nhấn quan trọng trong nội dung giáo dục mà cô thiết kế. Phần nội dung giáo dục hoàn toàn do cô chủ động xây dựng này thay cho nội dung về phần sản xuất nông nghiệp với những thông tin mang tính tổng quát trong sách giáo khoa. Trong thực tiễn giáo dục của cô, sách giáo khoa trở thành tài liệu tham khảo, đọc trước ở nhà và cả ở trên lớp để phục vụ tranh luận. Nói một cách khác, cô đã thiết kế và thực hiện một nội dung giáo dục cụ thể căn cứ trên mục tiêu, nội dung chương trình khung được đề ra trước đó, lấy cái cụ thể để làm rõ cái khái quát, bao trùm. Toàn bộ thực tiễn giáo dục này gồm hai phần chính Phần 1 Thực phẩm và nông dược Trước đó, cô Kawasaki đã hướng dẫn học sinh tiến hành hoạt động ngoại khóa Điều tra thu thập thông tin mua bán thực phẩm, sản xuất nông nghiệp, sử dụng nông dược ở quanh nơi các em sinh sống. Phần này gồm 4 tiết học, mỗi tiết kéo dài 45 phút với các nội dung cụ thể như sau Tiết 1 Bắp cải đẹp và bắp cải bị sâu cắn Nếu là người mua em sẽ chọn cái nào? Tiết 2 Chúng ta thường mua thực phẩm ở đâu? Tiết 3 Chúng ta cần chú ý điều gì đối với thực phẩm? Tiết 4 Nông dược là gì? Phần 2 Nông gia vùng Tainaka ông Naito và ông Fujiata. Phần này được tiến hành qua 7 tiết học với nội dung cụ thể như sau Tiết 1 Tainaka là vùng thế nào?; Tiết 2-3-4 Ông Fujita và ông Naito 1 Nếu là người sản xuất em chọn ông nào? Tiết 5-6 Nghe ông Naito kể chuyện; Tiết 7 Suy nghĩ của các em sau câu chuyện kể cho học sinh viết tiểu luận. Những thông tin giáo viên thu thập được như Tình hình sản xuất, khó khăn, niềm hạnh phúc, thu nhập bình quân hàng năm của nông gia… được giáo viên chỉnh lý cho dễ hiểu và in dưới dạng tài liệu phân phát cho học sinh. Hai nhân vật Naito không dùng nông dược và Fujita dùng nông dược là sáng tạo của giáo viên. Ông Fujita là hình ảnh 10 năm về trước của ông Naito. Giáo viên dùng hai hình ảnh đối lập này để tiến hành giờ học dưới hình thức trao đổi ý kiến và tranh luận. Trung tâm của bài học là vấn đề “Nếu là người sản xuất em sẽ lựa chọn ông Naito hay ông Fujita?”. Học sinh căn cứ vào những luận điểm như Thu nhập, khó khăn, thuận lợi… của hai người mà tranh luận, bác bỏ ý kiến đối lập và bảo vệ sự lựa chọn của mình. Phân tích hồ sơ giờ học cho thấy học sinh đã tranh luận sôi nổi và đưa ra nhiều ý kiến thú vị. Kết cục có ba xu hướng Xu hướng thứ nhất chọn ông Naito Học sinh A Tớ chọn ông Naito vì nếu là nông gia, tớ muốn mọi người được ăn thực phẩm tươi tự nhiên, ít có nông dược. Măc dù thu nhập của ông Fujita cao hơn nhưng nếu xét về tính tự nhiên thì ông Naito vẫn tốt hơn. Cho dù có bị sâu chén đi nữa thì cũng không phải là điều dở. Mà có khi thứ bị sâu chén lại là đồ ngon. Học sinh B Tớ chọn ông Naito vì nông dược có ảnh hưởng đến tính mạng người khác. Nếu như lỡ ăn phải sản phẩm của ông Fujita mà lại quên rửa thì chỉ có đường chết! Tớ cũng nghĩ như cậu A, mạng sống không bao giờ trở lại. Cho dù ai cũng thích tiền nhưng dẫu có tiền cũng không mua được sinh mạng nên tới chọn ông Naito. Xu hướng thứ hai chọn ông Fujita Học sinh C Chắc chắn là tớ chọn ông Fujita. Cho dù nói là nông dược nguy hiểm đến thế nào đi chăng nữa thì cho đến giờ ông Fujita cũng chưa một lần bị nhiễm độc. Ông Naito cho dù không dùng nông dược nhưng vẫn có nhược điểm. Thứ nhất là thu nhập thấp, thứ hai là cũng có lần không bán được, thứ ba là bị sâu ăn. Trái lại ông Fujita thì một là thu nhập cao, thứ hai ít khi không bán được, thứ ba là trở thành người trồng rau nổi tiếng. Và như thế đương nhiên ông Fujita tốt hơn. Học sinh D Tớ nghĩ làm ông Fujita tốt hơn. Cho dù có dùng nông dược đi nữa thì vẫn tốt hơn là bị sâu ăn. Ví dụ như khi trồng bắp cải mà không dùng nông dược thì những chỗ có thể ăn được sẽ bị sâu ăn mất. Cho dù có dùng nông dược đi nữa thì chỉ cần rửa kỹ là không sao. Thế cho nên chắc chắn tớ chọn ông Fujita. Bác Fujita ơi hãy cố gắng nhé! Xu hướng thứ ba Phân vân Học sinh E Tớ ngày hôm qua chọn ông Fujita, nhưng hôm nay đổi sang chọn ông Naito. Khi nghe ý kiến mọi người, tớ lại phân vân không biết chọn ai. Nhưng ông Fujita cho dù có dùng nông dược đi nữa thì vẫn có thu nhập cao. Ông Naito tuy không dùng nông dược nhưng lại có thu nhập thấp. Tớ muốn mọi người ăn thứ không có nông dược nhưng nếu thu nhập thấp thì biết làm sao đây? Nhưng việc ông Naito phải dùng máy cày phá nát luống bắp cải thật đáng thương! Học sinh F Cho đến ngày hôm qua, tớ chọn ông Fujita nhưng hôm nay học thêm lần nữa tớ lại cảm thấy phân vân. Ông Fujita thì có thu nhập cao nhưng lại sử dụng nông dược, nhìn vào tài liệu thấy có viết chuyện ngộ độc thật là đáng sợ. Ông Naito có thu nhập thấp vì thế cuộc sống khó khăn. Nhưng ông Naito đã bỏ cách dùng nông dược sang không dùng nông dược nên tớ nghĩ ông Naito là OK. Thế nên lúc này tớ chăng biết nói thế nào cả. Giờ học kết thúc mà không có kết luận cuối cùng. Từ các lớp bậc trên của tiểu học lớp 4 trở đi trong những giờ học sử dụng phương pháp thảo luận, tranh luận, giáo viên thường không đưa ra kết luận cuối cùng hay phê phán ý kiến khác biệt, thiểu số của học sinh. Bởi vì mục tiêu mà các giáo viên Nhật hướng tới là giáo dục nên những học sinh có tri thức, tư duy độc lập, năng lực phê phán và trách nhiệm cá nhân. Giáo dục nên những con người biết tự mình suy nghĩ, tự mình nhận định đúng sai, tự mình tìm lấy chân lý và bảo vệ chân lý là một bộ phận quan trọng nằm trong triết lý giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Không phải chỉ có giờ học về nông nghiệp mà các giờ học Địa lý, Lịch sử cũng vậy. Tôi đã quan sát không ít các giờ học Lịch sử, ở đó học sinh Nhật sôi nổi tranh luận những vấn đề mà nhiều người lớn cũng sẽ lúng túng khi phải đưa ra ý kiến như “Tán thành hay phản đối cuộc chiến tranh với nước Nga?”, “Trách nhiệm chiến tranh thuộc về người dân Nhật hay thuộc về Thiên hoàng?”… Vai trò giáo viên Dạy trò độc lập tư duy và dám phản biện Từ thực tiễn giờ học trên có thể rút ra điều gì? Nó đã thể hiện rất rõ vai trò của giáo viên trong việc xử lý mối quan hệ giữa giáo dục và thực tiễn, giữa sách giáo khoa – nội dung chương trình và thực tiễn dạy học của giáo viên. Những vấn đề liên quan đến các mối quan hệ này đã được các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục Nhật tranh luận sôi nổi suốt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Việc làm rõ những vấn đề này có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến những vấn đề cơ bản của giáo dục, nơi tạo ra những người làm chủ, quyết định sự hưng vong của cả một quốc gia dân tộc. Kết cục bi thảm của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai cùng với sự phản tỉnh sâu sắc về một nền giáo dục sai lầm trong quá khứ đã giúp cho giáo viên Nhật Bản nhận thức rõ về quyền, nghĩa vụ và sứ mệnh của mình. Nước Nhật từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã giải bài toán giáo dục tương đối thành công bằng cuộc cải cách giáo dục triệt để, toàn diện có triết lý và lộ trình rõ ràng. Cuộc cải cách giáo dục ấy vẫn diễn tiến đến tận ngày nay cho dù triết lý giáo dục về cơ bản là không thay đổi. Trong cuộc cải cách giáo dục toàn diện và rộng lớn ấy, những giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Họ không đơn thuần là người thực hiện những chỉ dẫn cải cách mang tính hành chính mà họ còn đóng vai trò phản biện chính sách góp phần đảm bảo cho cuộc cải cách giáo dục diễn ra đúng hướng. Quan trọng hơn, những giáo viên bằng thực tiễn giáo dục phong phú, sáng tạo tương ứng với điều kiện cụ thể của từng trường học, lớp học, học sinh đã tạo ra cuộc cải cách giáo dục từ dưới lên bằng muôn nghìn dòng chảy. Cuộc cải cách giáo dục ấy đã có những tác động lớn và tích cực tới dòng chảy cải cách giáo dục từ trên xuống do Bộ Giáo dục chủ trì. Việt Nam hiện tại cũng đang đứng trước bài toán giáo dục. Bài toán vừa mang tính kinh điển vừa mang tính thời đại. Muỗn giải trọn vẹn bài toán này rất có thể phải giải thêm và cùng lúc một hai bài toán chính và hàng chục bài toán phụ. Bài toán này tuy khó nhưng thực ra đã nhìn thấy đáp số vì trên thực tế nhiều nước tiên tiến như Nhật đã giải rồi. Vấn đề là ở Việt Nam chúng ta nên giải nó như thế nào? Khó không có nghĩa là không làm hay “há miệng chờ sung” bởi nếu không giải được bài toán đó, chúng ta sẽ mãi là những kẻ bộ hành quờ quạng trong đường hầm không tìm thấy lối ra. Nguyễn Quốc Vương Trích "Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản" - NXB Phụ nữ Với mỗi người con Việt Nam xa xứ, hình ảnh phiên chợ quê dễ dàng chạm đến cảm xúc và khơi dậy những ký ức tươi đẹp, yên bình và đậm chất quê hương. Ở đó, có không khí gần gũi mang hơi thở quen thuộc của làng quê Việt đó có các bà, các mẹ, hàng xóm láng giềng bày bán hàng quán, có tiếng cười nói rộn ràng. Ở đó có những món ăn tuổi thơ đã đi vào tiềm thức bao thế hệ người Việt. Những phiên chợ quê hiếm hoi tại Nhật Bản không chỉ mang đến không gian văn hóa đa màu sắc mà còn trở thành món ăn tinh thần giá trị của cộng đồng Việt kiều đang sinh sống và học tập tại cảnh không gian Chợ quê Việt tại Fukuoka. Chợ quê đã diễn ra từ 10h-16h, ngày 10/6 tại Học viện Nhật ngữ GAG – thuộc thành phố Fukuoka. Công tác chuẩn bị cho hoạt động này đã được Hội người Việt Nam tại Fukuoka và Hội phụ nữ Việt Nam tại Kyushu và Học viện Nhật ngữ GAG phối hợp cùng triển khai trong không khí khẩn trương, hiệu quả và vui vẻ. Sự kiện này được Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Fukuoka là đơn vị bảo trợ và tạo điều kiện tổ chương trình Chợ quê Việt tại Ban tổ chức, chương trình sẽ được tổ chức định kì hàng tháng. Tại phiên chợ quê tháng 6 đã diễn ra nhiều hoạt động hấp dẫn như Khu ẩm thực với những món ăn truyền thống đa dạng; Khu giáo dục và kinh tế là nơi trao đổi, tư vấn những vấn đề học tập, lao động việc làm thêm, visa, lập công ty....Tại phiên chợ, còn diễn ra hoạt động ý nghĩa và nhân văn, đó là Chợ Trời – Flea Market, nơi cho/tặng những món đồ còn tốt cho người thực sự cần chúng. Ngoài ra, các công ty tham gia phiên chợ còn có cơ hội giới thiệu doanh nghiệp, quảng bá sản phẩm đến với khách hàng Việt kiều và nhân dân bản biệt, hưởng ứng chiến dịch giáo dục tiếng Việt và văn hóa Việt cho trẻ em thế hệ thứ 2, thứ 3 tại Nhật Bản, đến với phiên chợ, các em nhỏ có cơ hội tham gia vào Open day – Tiếng Việt Cho Em, trải nghiệm không gian học tập thú vị và bổ gian hàng ẩm thực, giới thiệu sản phẩm Việt người Việt Nam tại Fukuoka cho biết, Ban tổ chức sẽ duy trì hoạt động này và tổ chức mỗi tháng một lần, để nơi đây trở thành điểm hẹn văn hóa hấp dẫn, cầu nối gắn kết cộng đồng người Việt, chung tay lan tỏa hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai quốc gia Việt Nam – Nhật khách được trải nghiệm trà đá vỉa hè ngay tại Nhật quê Việt Nam tại Fukuoka đã thu hút gần 500 người Việt Nam và Nhật Bản tham dự và trải nghiệm. Là người chỉ đạo tổ chức và dành nhiều tâm huyết cho chương trình chợ quê, ông Nguyễn Duy Anh – Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Fukuoka, Hiệu trưởng Học viện Nhật ngữ GAG khẳng định “Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực hết sức mình, cống hiến cho công tác quảng bá văn hóa Việt Nam, chung tay phát triển cộng đồng Việt kiều ngày càng lớn mạnh và phát triển”.Ông Nguyễn Duy Anh, Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Fukuoka trái tại sự Chi Cuốn sách của tác giả Nguyễn Quốc Vương Giảng viên khoa Lịch sử - Đại học Sư phạm Hà Nội, Nghiên cứu sinh ngành giáo dục lịch sử tại Đại học Kanazawa Nhật Bản ra đời đúng dịp tròn 10 năm anh đến Nhật và tiếp xúc với giáo dục Nhật. Những chiêm nghiệm của tác giả về giáo dục đặc biệt là giáo dục lịch sử ở hai nước Nhật Bản và Việt Nam từ trường đại học, cuộc sống và những chuyến đi thực tế liên tục tới các trường phổ thông của Nhật Bản thật sự là những thông tin vô cùng giá trị. Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam học được gì từ Nhật Bản” do NXB Phụ Nữ phát hành, hiện đã được tái bản lần 2."Học về giáo dục và suy ngẫm về giáo dục nước nhà thật không phải là công việc nhẹ nhàng. Nó giống như là một sự hành xác. Nhưng tôi vẫn muốn tiếp tục nghĩ về nó" - Nguyễn Quốc VươngCuốn sách Giáo dục Việt Nam học được gì từ Nhật Bản gồm hai phầnPhần 1 Giáo dục Việt Nam và giáo dục Nhật Bản, sách giáo khoa, cơ chế sách giáo khoa quốc định - kiểm định, triết lý giáo dục….Phần 2 Bàn sâu hơn về giáo dục lịch sử với những vấn đề triết lý giáo dục lịch sử là gì, học sinh Việt Nam tại sao chán học môn Lịch sử, học sinh Nhật Bản học lịch sử như thế nào, đâu là lối thoát cho giáo dục lịch sử Việt Nam hiện phần 1 của cuốn sách, tác giả đã nêu lên những vấn đề hết sức nóng hổi và đưa ra những đánh giá xác đáng về giáo dục Việt Nam và Nhật Bản. Chỉ cần đọc những tiêu đề bài viết, người đọc đã có thể cảm nhận ngay được sự hấp dẫn về nội dung- Khi người thầy nhầm lẫn “quyền lực” và “quyền uy”- Tại sao không phải là “con đại gia đỗ thủ khoa”?- Sử dụng chuyên gia nước ngoài – Yếu tố tạo ra thành công của cải cách giáo dục Nhật Bản-Du học Nhật Bản Không có chỗ cho người mơ mộng,-Từ chuyện tổ chim ngẫm về giáo dục.....Tác giả Nguyễn Quốc Vương. Ảnh Nam Trần/ quan sát của tác giả, trong chương trình giáo dục trường học ở Nhật thường bao gồm ba yếu tố các môn giáo khoa - đạo đức, hoạt động đặc biệt hoạt động câu lạc bộ, hoạt động tự trị, nghi lễ trường học, thời gian hoạt động tổng hợp khoảng thời gian học tập tạo cơ hội cho học sinh học các vấn đề tổng hợp, những vấn đề xã hội hiện tại đang đối mặt. Do đó trong chương trình học, học sinh từ tiểu học sẽ có cơ hội tìm hiểu, thảo luận rất nhiều vấn đề nóng bỏng của đời sống như sửa đổi hiến pháp, ô nhiễm môi trường, tăng hay giảm thuế tiêu dùng, chế độ tư pháp cho phép người dân thường tham gia xét xử tại tòa án chế độ saibanin...Đặc biệt, ở phần phụ lục của sách có Luật Giáo dục cơ bản Quốc hội Nhật ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi 2006, Thực tiễn giáo dục hoà bình thông qua phong trào Lập hồ sơ về trận không kích Fukuyawa ở thành phố Fukuyawa, tỉnh Hiroshima để giúp người đọc có thêm cái nhìn đa chiều về giáo dục Nhật bài viết của tác giả rất khách quan, không quá "cuồng Nhật" khi có khen, có chê rõ ràng, anh chia sẻ “Với tôi học Nhật cũng tốt, học Phần Lan cũng hay. Nghiên cứu Lào, Campuchia … càng cần thiết. Một nền giáo dục hiện đại là nền giáo dục chấp nhận nhiều trường phái, nhiều ý tưởng, nhiều mô hình. Ở Nhật cho dù có những tính chất “Á đông” cố hữu, sự đa dạng này vẫn tồn tại. Chẳng hạn hệ thống trường tư khá mạnh. Đấy là một truyền thống có tính lịch sử của Nhật Bản. Truyền thống này có đóng góp khá lớn vào sự thành công của giáo dục Nhật. Chuyện dạy – học Sử ở Việt NamNhững lí giải của tác giả về việc học sinh Việt chán học Sử là do Thiếu hụt triết lí giáo dục lịch sử, tư duy trả lời cho câu hỏi “học lịch sử để làm gì”, “độc quyền chân lý” của chương trình và sách giáo khao, sự bế tắc và nhầm lẫn của “đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, sai lầm trong kiểm tra và đánh giá."Việt Nam thiếu các công trình sử học có giá trị làm nền tảng cho giáo dục lịch sử kiểu Nghiên cứu xã hội. Chẳng hạn, muốn thiết kế, thực hiện giáo dục lịch sử theo chủ đề hay chuyên đề, giáo viên phải căn cứ vào công trình chuyên khảo đáng tin cậy. “ Lịch sử theo chủ đề” thường chú trọng lịch sử xã hội, mà trước hết là lịch sử “ăn”, “mặc”, “ở”, “đi lại” của các cộng đồng. Nhưng thử hỏi hiện tại có bao nhiêu công trình sử học thực sự về các vấn đề này trên đất nước ta?"Học Sử để làm gì?– một câu hỏi vô cùng quan trọng nhưng nó cũng là câu hỏi mà ít có giáo viên và cuốn sách giáo khoa nào làm hài lòng học sinh. Ảnh vietnamnetTuy viết về những vấn đề tưởng chừng như khô khan như giáo dục, lịch sử, thế nhưng bằng ngòi bút chỉn chu, tư duy sắc bén của một người "không thể ngừng nghĩ về giáo dục", tác giả Nguyễn Quốc Vương đã thật sự giúp cho người đọc hiểu hơn về nhiều vấn đề về tư duy, cách quản lí giáo dục và có cái nhìn đa chiều hơn về lịch sử, giáo dục Nhật Bản Việt trích một đoạn khá hay trong sách thay cho lời kết“Học sinh không chọn môn Sử, thầy/ cô có buồn không?” – Chúng tôi đáp Không!”Thậm chí là ngược lại. Tuổi trẻ thông minh và nhạy cảm hơn người lớn tưởng. Giữa chán học môn Sử trong trường và quan tâm tới lịch sử, có ý thức lịch sử mạnh mẽ hay không lại là chuyện khác. … Và nữa, biết đâu nếu như 100% học sinh cả nước không chọn môn Sử làm môn thi tốt nghiệp, môn Sử sẽ lại hồi sinh. " “Ngành Việt Nam học là gì? Ra trường làm gì?” là câu hỏi được hầu hết thí sinh đặt ra khi tìm hiểu về Việt Nam học. Đây là mối băn khoăn hoàn toàn dễ hiểu, vì để học tốt và thành công trong bất cứ ngành nghề nào, điều quan trọng đầu tiên là bạn phải hiểu rõ ngành học đó là gì và cơ hội nghề nghiệp ra sao. Bài viết dưới đây sẽ giúp cho những bạn đang mong muốn theo đuổi ngành Việt Nam học giải tỏa được mối bận tâm chính đáng này. Ngành Việt Nam học là gì? Việt Nam học là ngành khoa học nghiên cứu đất nước và con người Việt Nam từ những thành tố văn hóa, lịch sử, địa lí, phong tục tập quán, ngôn ngữ, văn học... để làm rõ những nét riêng độc đáo, nghiên cứu toàn diện và đa dạng những lĩnh vực của một quốc gia trên góc nhìn văn hóa. Ngành Việt Nam học tuy là một ngành mới nhưng đã có nhiều thành công đáng kể, đặc biệt quan trọng trong tiến trình Việt Nam đang xây dựng và hội nhập sâu rộng vào quốc tế. Ngành Việt Nam học được mở với mục tiêu đào tạo người học nắm vững và thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác văn hóa và du lịch; nắm vững kiến thức cơ bản về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam và kiến thức nghiệp vụ du lịch; có khả năng tổ chức, hướng dẫn các hoạt động du lịch. Ngành Việt Nam học là ngành học hấp dẫn thu hút sự lựa chọn của thí sinh và phụ huynh Tại Việt Nam, một số trường đại học đào tạo ngành Việt Nam học có uy tín được phụ huynh và thí sinh đánh giá cao có thể nhắc đến đầu tiên Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Sư phạm Đại học Cần Thơ… Bên cạnh đó, từ năm 2018 trường Đại học Công nghệ HUTECH sẽ tuyển sinh ngành Việt Nam học để phụ huynh và thí sinh có thêm một địa chỉ tin cậy nữa để thực hiện giấc mơ đại học với ngành Việt Nam học giàu triển vọng này. Học ngành Việt Nam học ra trường làm gì? Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP. HCM, trong những năm qua nhiều thí sinh ngại học những ngành ở khối xã hội vì khó xin việc và thu nhập thấp. Do đó, nhân lực của những ngành này đang thiếu trầm trọng. Ông Trần Anh Tuấn dẫn chứng “Nhóm ngành xã hội là 1 trong 9 ngành thu hút nhiều lao động nhất tại TP. HCM trong giai đoạn 2014 – 2015 và xu hướng đến năm 2020 – 2015. Từ đây đến năm 2025, mỗi năm nhóm ngành này tuyển người. Mức lương không hề thua kém các ngành khác. Trong đó, Việt Nam học là ngành cần nhiều lao động nhất”. Sinh viên ngành Việt Nam học sau khi ra trường có thể đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau Cơ hội nghề nghiệp ngành Việt Nam học ngày càng rộng mở và đa dạng. Khi ra trường, sinh viên ngành Việt Nam học có thể đảm nhiệm một số vị trí Làm việc tại các viện nghiên cứu văn hóa; quản lý văn hóa, các tổ chức văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục, khoa học, các tổ chức nước ngoài,các công ty lữ hành, du lịch; cơ quan văn hóa, thông tin, thể thao, du lịch; cơ quan hành chính, sự nghiệp; các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức quốc tế và phi chính phủ trong - ngoài nước. Làm việc trong cơ quan báo chí, tuyên truyền hoặc truyền thông, tổ chức sự kiện Hướng dẫn viên du lịch hay quản trị lữ hành tại các công ty du lịch trong cả nước Giảng dạy tại các trường Đại học, cao đẳng hoặc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Với những điều đã trình bày, có lẽ “Ngành Việt Nam học là gì? Ra trường làm gì?” đã không còn là một câu hỏi khó. Tuy nhiên, bạn có phù hợp để theo học ngành Việt Nam học không, ngành Việt Nam học xét tuyển những tổ hợp môn nào, điểm trúng tuyển của ngành Việt Nam học khoảng bao nhiêu, có những trường nào uy tín đào tạo ngành Việt Nam học,… là những câu hỏi bạn sẽ phải tiếp tục trả lời nếu thực sự mong muốn theo đuổi ngành Việt Nam học và trở thành một Cử nhân Việt Nam học thành công trong tương lai. Hoàng Vy Đăng ký xét tuyển trực tuyến Mọi thắc mắc về các vấn đề có liên quan, mời bạn đặt câu hỏi để được tư vấn chi tiết Xem thêm >> Ngành Việt Nam học>> Học ngành Việt Nam học ở đâu?>> Ngành Việt Nam học lấy bao nhiêu điểm?>> Ngành Việt Nam học xét tuyển những tổ hợp môn nào?>> Cơ hội việc làm ngành Việt Nam học>> Có nên học ngành Việt Nam học không? >> Trường nào tuyển sinh ngành Việt Nam học?>> Trường nào xét tuyển học bạ ngành Việt Nam học? >> Học ngành Việt Nam học có dễ xin việc làm không?>> Thời gian học ngành Việt Nam học trong bao lâu? >> Ngành Việt Nam học xét tuyển các phương thức nào? >> Để xét tuyển ngành Việt Nam học cần học tốt môn nào? >> Học ngành Việt Nam học thực hành, thực tập ở đâu? Các tin khác Ngành Kinh doanh quốc tế là gì? Đối với các bạn yêu thích lĩnh vực đầu tư quốc tế, logistic và vận tải quốc tế, marketing quốc tế thì ngành học Kinh doanh quốc tế chính là lựa... Ngày đã diễn ra lễ công bố Giải Sách Hay lần thứ X, năm 2020. Mùa giải năm nay tiếp tục với 7 hạng mục, bao gồm Nghiên cứu, Giáo dục, Kinh tế, Quản trị, Văn học, Thiếu nhi và Phát hiện mới. So sánh giáo dục lịch sử giữa 2 nước Sau hơn 5 tháng làm việc nghiêm túc, 7 hội đồng xét giải với 35 chuyên gia hàng đầu là những tên tuổi lớn về từng lĩnh vực, đã hoàn tất công tác lựa chọn và tìm ra 15 tựa sách xứng đáng nhất để trao tặng Giải Sách Hay mùa giải năm 2020. Ở hạng mục Sách Giáo dục, giải năm nay thuộc về 2 tựa sách. Đó là tác phẩm Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản tác giả Nguyễn Quốc Vương và dịch phẩm Biện hộ cho một nền Giáo dục Khai phóngtác giả Fareed Zakaria, dịch giả Châu Văn Thuận. Sách Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản Nhà xuất bản Phụ Nữ xuất bản vào năm 2017. Cuốn sách gồm 2 phần Giáo dục Việt Nam và giáo dục Nhật Bản, giáo dục lịch sử ở Việt Nam và Nhật Bản. Ở phần 1, tác giả đưa ra cái nhìn so sánh giáo dục 2 nước về sách giáo khoa, cơ chế sách giáo khoa quốc định - kiểm định, triết lý giáo dục… với những câu chuyện cụ thể thú vị, có chuyện đang là vấn đề gây tranh cãi trong nước. Ở phần 2 , tiến sĩ Nguyễn Quốc Vương bàn sâu hơn về giáo dục lịch sử. Anh nói về triết lý giáo dục lịch sử, tại sao học sinh Việt Nam chán học môn lịch sử, học sinh Nhật Bản học lịch sử như thế nào, đâu là lối thoát cho giáo dục lịch sử Việt Nam hiện tại... Bìa sách Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản NXB Phụ Nữ Nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Vương là cái tên quen thuộc và được nhiều người biết đến trong thời gian gần đây với tư cách là một chuyên gia nghiên cứu giáo dục. Trước đây, anh là giảng viên khoa lịch sử tại Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, sau đó làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành giáo dục lịch sử tại ĐH Kanazawa Nhật Bản. Trao đổi với Báo Thanh Niên sau khi đoạt giải, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Vương cho biết anh rất vui và bất ngờ vì chỉ biết kết quả sát ngày công bố. Không gì vui hơn khi sách được những người có uy tín bình chọn và giới thiệu tới bạn đọc. Hy vọng nhiều giáo viên phụ huynh, cán bộ quản lý giáo dục sẽ tìm đọc cuốn sách này. Dạy theo mục tiêu chứ không phải chương trình Chia sẻ đơn giản về cuốn sách với phóng viên Báo Thanh Niên, anh Nguyễn Quốc Vương cho biết "Cuốn sách ghi lại những so sánh của tôi về giáo dục Việt Nam và Nhật Bản như triết lý giáo dục, các cuộc cải cách giáo dục, phương thức tiến hành cải cách, kiểm tra đánh giá. Từ so sánh đó, tôi đưa ra một vài gợi ý cho những người làm giáo dục ở Việt Nam. Cuốn sách cũng dành một nửa dung lượng cho những so sánh, phân tích về giáo dục lịch sử của hai nước". Tuy nhiên, trong buổi lễ trao giải, phát biểu "đáp lễ" sau khi nhận giải, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Vương cho biết "Giáo viên của chúng ta đang dạy theo sách giáo khoa, theo chương trình. giáo viên dạy tại ngôi trường đều dạy giống nhau. Vở ghi của học sinh là tóm tắt nội dung sách giáo khoa. Nhưng ở Nhật Bản, giáo viên dạy thì có khoảng 700 - 800 người dạy khác nhau. Mục tiêu dạy như thế nào là do Nhà nước quy định, nhưng tiến đến mục tiêu đó như thế nào là do từng giáo viên dạy. Nhìn ra thế giới là để soi lại chúng ta. Chúng ta có thể làm gì để 10 - 20 năm nữa, con cháu chúng ta sẽ nói khác hơn...". Nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Vương NVCC Một điều rất thú vị là nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Vương, người được giải Sách Hay 2020, tự nhận rằng hiện nay anh làm nghề "bán sách rong", biên tập, dịch sách, viết sách và... khuyến khích người khác đọc sách. Anh thường xuyên đến các trường mầm non, tiểu học để nói chuyện với phụ huynh về vai trò đọc sách cho trẻ. Trên Facebook cá nhân, anh bộc bạch tâm sự của mình "Được giải Sách Hay không có thưởng đương nhiên là mừng rồi. Nhưng mừng hơn là hội trường chật cứng người mà ngồi tận quá 12 giờ trưa không mấy người bỏ về. 3/4 người trong hội trường là các bạn trẻ. Nhiều người đọc sách, mê sách, ngồi với nhau nói chuyện về sách thì xã hội sẽ văn minh lên, đấy là điều chắc chắn. Vẫn biết rằng việc xóa mù đọc khó hơn rất nhiều xóa mù chữ và việc đưa sách vào đời sống xã hội là không đơn giản nhưng sự có mặt của nhiều bạn trẻ trong buổi công bố giải Sách Hay vẫn cho thấy tia hy vọng". Kết quả giải Sách Hay năm 2020 Ngoài giáo dục, kết quả Sách Hay năm 2020 các hạng mục khác như sau Hạng mục Sách Nghiên cứu 2 tựa sách Tác phẩm Làng mạc ở châu thổ sông Hồng Tác giả Nguyễn Tùng và Nelly Krowolski; Dịch phẩm Sự kiến tạo xã hội về thực tại Tác giả Peter L. Berger và Thomas Luckmann, Dịch giả Trần Hữu Quang và Nhóm dịch giả. Hạng mục Sách Kinh tế 2 tựa sách Tác phẩm Thần kỳ Kinh tế Tây Đức Tác giả Tôn Thất Thông; Dịch phẩm Sự Giàu và Nghèo của các Dân tộc Tác giả Davis S. Landes, Dịch giả Sơn Phạm và Vũ Hoàng Linh. Hạng mục Sách Quản trị 2 tựa sách Tác phẩm Lý thuyết trò chơi và ứng dụng trong quản trị - kinh doanh Tác giả Lê Hồng Nhật; Dịch phẩm Định hình cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Tác giả Klaus Schwab, Dịch giả Nguyễn Vân và Thành Thép. Hạng mục Sách Thiếu nhi 2 tựa sách Tác phẩm Nhật ký của nhóc Alvin siêu quậy Tác giả Nguyễn Khang Thịnh; Dịch phẩm Hành trình của cá Voi Tác giả Michael Morpurgo, Dịch giả Trần Thị Minh Hiếu. Hạng mục Sách Văn học 2 tựa sách Tác phẩm Bộ sách Từ Dụ Thái Hậu gồm Quyển thượng và Quyển hạ Tác giả Trần Thùy Mai; Dịch phẩm Chết chịu Tác giả Céline, Dịch giả Dương Tường. Hạng mục Sách Phát hiện mới 3 tựa sách Tác phẩm Bộ sách 2 quyển Nguyễn Văn Tường và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn Tác giả Nguyễn Quốc Trị; Dịch phẩm Vũ Dạ Đàm - Tự truyện Shibusawa Eiichi Tác giả Shibusawa Eiichi, Dịch giả Nguyễn Lương Hải Khôi; Dịch phẩm Những tìm sâu Triết học Tác giả Ludwig Wittgenstein, Dịch giả Trần Đình Thắng Đào Thị Hồng Hạnh kiểm sửa.

việt nam học được gì từ nhật bản